CHUYỆN NGẮN
 

TÌNH BẠN ĐẸP CỦA NGƯỜI XƯA - Đoàn Kỳ Trung sưu tầm

Chuyện kể rằng vào đời nhà Tống ở Trung quốc có một đôi bạn thân, cả hai người đều học rộng, tài cao. Về phẩm hàm là quan nhất, nhị phẩm. Đó là nhà văn Vương An Thạch và nhà thơ Tô Đông Pha. Văn chương, thơ phú của cả hai người đều rất nổi tiếng, Vương An Thạch giữ chức Tể tướng Còn Tô Đông Pha thì làm quan cai trị một vùng. Hai người là bạn thân chơi với nhau từ lâu nhưng do mỗi người lại có năng khiếu và sở trường riêng, người này giỏi văn còn người khi thì lại giỏi về thơ, vậy cho nên Tô Đông Pha không phục Vương An Thạch, coi bạn không giỏi bằng mình.

Biết là bạn coi thường mình nhưng Vương An Thạch chỉ im lặng không nói gì cả. Có một lần Vương An Thạch chủ động mời Tô Đông Pha đến tư dinh Tể tướng của mình chơi để đàm đạo chuyện văn chương. Khi Tô Đông Pha đến, Vương An Thạch cố ý vắng mặt một cách tế nhị khi Tô Đông Pha bước vào thư phòng của ông. Vì không thấy chủ, lại thấy trên bàn có một bài thơ đã làm xong và một bài đang viết dở. Vì giỏi thơ, khi nhìn thấy có thơ là ông liếc mắt đọc ngay. Một bài có đôi câu như sau:
“Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”.

Tô Đông Pha nhíu mày, nhăn trán suy nghĩ : Minh nguyệt là ánh trăng sáng, mà khiếu là hót. Vậy thì ánh trăng sáng, sao mà lại hót được ở đầu núi nhỉ? Câu tiếp là Hoàng khuyển là con chó vàng thì làm sao lại ngọa (nằm) được ở trong tâm (giữa) bông hoa?. Ông lắc đầu và tỏ rõ ý coi thường tác giả của bài thơ. Ông nghĩ “Vậy mà người ta cứ đồn là Vương An Thạch giỏi?” Nhân lúc vắng chủ nhà, và sẵn tiện có bút mực tại chỗ, ông sửa lại ngay hai câu thơ là:
“Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm”

Có nghĩa là ánh trăng chiếu nơi đầu núi và con chó vàng nằm dưới bóng của bông hoa. Sửa xong hai câu thơ trên, Tô Đông Pha tỏ vẻ rất hài lòng và cho rằng khi đọc lại hai câu thơ này thì Vương An Thạch phải phục tài của mình lắm. Thơ phải sửa như thế mới đúng ngữ và nghĩa chứ!

Đọc tiếp bài văn thứ hai, thấy Vương An Thạch tả cảnh mùa đông lạnh lẽo, tuyết rơi, hoa cúc rụng tơi tả. Tự liên hệ, ông thấy rất bực mình vì trên thực tế không bao giờ có chuyện hoa cúc lại rụng. Với hoa cúc, khi tàn héo nó vẫn cứ bám vào đài và thân hoa cho đến khi cây cúc chết. (Hoa cúc như vậy nên các đôi trai gái khi yêu thường lấy hoa làm biểu tượng để tặng cho nhau thể hiện sự chung thủy của mình) Ông cầm bút viết ngay vào bên cạnh bài văn để nói thẳng với tác giả rằng “Hoa cúc không bao giờ rụng cả”.

Biết mình chức, tước và phẩm hàm còn dưới Vương An Thạch nên lúc ra về suy nghĩ lại, ông biết mình phạm thượng, vì Vương An Thạch là quan đầu triều, chỉ dưới có một mình vua (dưới một người, trên muôn vạn người). Thế nào mình cũng sẽ bị trị tội, bị trả thù là cái chắc.

Quả đúng như dự đoán, sau một thời gian ngắn Tô Đông Pha nhận được “trát” điều đi nhậm chức tận vùng phương Bắc xa xôi như đi “đầy”. Tô Đông Pha hối hận và nhận ra hậu quả việc làm bồng bột của mình! Còn với tể tướng Vương An Thạch, sau khi ban “trát” điều Tô Đông Pha đi, ông hạ lệnh” các quan lại địa phương mà Tô Đông Pha đến làm việc là phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông tìm hiểu đất đai, thổ nhưỡng cũng như thiên nhiên vùng đó và phải đối xử với tiên sinh Tô Đông Pha như bậc đại khách”.

Là một người yêu thiên nhiên và biết cảm thông với nỗi thống khổ của người dân ở vùng đất khô cằn, khắc nghiệt, Tô Đông Pha thường xuyên tiếp xúc với dân, ông thỏa sức du ngoạn để tìm hiểu về con người và đất đai khắp vùng. Vì sống hòa đồng và hết sức thân thiện với mọi người nên ông đi đến đâu cũng được từ quan đến dân đón tiếp chân thành và nồng thắm.

Có một lần đến thăm một làng quê nọ Tô Đông Pha bỗng nghe thấy tiếng chim lạ hót véo von, tiếng hót rất trong lại vang vọng vào núi đá. Nhà thơ hỏi đấy là loại chim gì mà hót hay như vậy? Những người dân địa phương trả lời : Đấy là tiếng hót của chim Minh Nguyệt.

Có một lần khác khi đi thăm một vườn trồng hoa, thấy mọi người đang bắt sâu, đó là một loại sâu lạ nằm giữa bông hoa để ăn nhụy. Ông hỏi đó là sâu gì thế? Những người nông dân trả lời: Đó là sâu Hoàng Khuyển. Thì ra trên thực tế có cả loại chim Minh Nguyệt và loài sâu Hoàng Khuyển thật. Vì tự cao không hiểu hết ý và tự sửa bài thơ của Vương An Thạch, làm sai nội dung và tứ thơ hay của bài thơ!

Thời gian trôi đi, khi mùa đông phương Bắc lạnh lẽo tràn về, Tô Đông Pha ngồi trong nhà nhìn ra ngoài thấy tuyết trắng xóa bay đầy trời và ở dưới vườn nhà những cánh hoa cúc bị tuyết bám vào rụng rơi lả tả. Nhà thơ lại giật mình lần nữa và không tránh được tiếng thở dài, thì ra có hoa cúc rụng thật. Chỉ có điều là nó rụng trong hoàn cảnh và môi trường như thế nào mà thôi.

Ông ngồi suy nghĩ và hồi tưởng lại những sự việc đã diễn ra trong thời gian vừa qua, thấy rõ sự hiểu biết quá cạn cợt của mình, nghĩ việc mình được bổ nhiệm làm quan nơi xa xôi, được tiếp xúc, du ngoạn và được đón tiếp thịnh tình lại có thêm nhiều hiểu biết và những vốn sống phong phú ở một vùng thiên nhiên kỳ thú nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt này. Tô Đông Pha bỗng nhận ra bạn mình Vương An Thạch, quan Tể tướng – Nhà văn không phải là người tầm thường, không phải trả thù hay “đầy” mình lên biên cương mà chính là quan tâm tạo điều kiện cho mình đi “thực tế” để có thêm vốn sống và kiến thức từ trong dân gian.

Vừa thấm thía, vừa biết ơn cộng với sự cảm phục, nhà thơ Tô Đông Pha liền ngồi viết thư tạ lỗi với tể tướng Vương An Thạch.
 

HOA TIM - Vũ Long Hương

Lời nói đầu: Để nhớ về Hà Thành yêu dấu.. những năm tháng êm đềm thời tiền-chiến, những bi hùng lúc chinh-chiến và những đắng cay hậu chiến mà những bức ảnh xinh đẹp của ba mươi sáu phố-phường và nổi lòng thương nhớ dạt-dào dành cho Hà-Nội năm xưa vẫn còn tươi màu kỹ niệm trong ký-ức, trong trái Tim.

Trong giới yêu mến văn chương, thi phú và âm nhạc trên nửa thế kỷ vừa qua không ai mà không biết đến bài thơ " Hai sắc Hoa Ti-Gôn" của T.T.KH. Lời và ý thơ đơn giản, nhẹ nhàng của một cô gái phải miển cưởng lên xe hoa về với chồng mà con Tim thì vẫn thương tưởng đến người yêu cho dù nhiều năm sau hôn nhân. Xin mời quí vị tưởng tượng đang sống vào thập niên ba mươi của thế kỷ trước ở thành phố Hà Nội để cùng chia sẻ tâm sự, cảm thông mối tình ngang trái của nhà Thơ bất hạnh này.. T.T.KH. là ai? mãi cho đến bây giờ mọi người cũng chưa biết được tên thật nói chi đến thân thế, tiểu sử. Có nhiều người đoán là Trần thị Khánh, trong bốn câu thơ của nhà thơ Thâm-Tâm Nguyển Tuấn Trình thường nhắc đến tên một người con gái là Khánh, không rõ có liên hệ gì đến T.T.KH hay không?

Tiếng xe mở lối vu-qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời
Miệng chồng Khánh gắn lên môi
Hình Anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ
Thâm-Tâm.


Trong bối cảnh thời gian và không gian lúc bấy giờ... phong tục, luân lý,danh giá, gia phong là những bức tường dầy đặc mà một cô gái yếu đuối không thể vượt thoát ra ngoài để tự do đi tìm màu nắng hồng cho trái Tim nở hoa được. Sau khi truyện ngắn " Hoa Ti-Gôn" của Thanh-Châu đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy của ông chủ nhiệm Vũ đình Long, số 93 phố Hàng Bông Hà Nội do nhà xuất bản Tân Dân ấn hành vào năm 1937 thì vài tháng sau,mang đến toà soạn một phong thư trao tận tay ông chủ nhiệm là một thiếu phụ dấp dáng nhỏ bé, xinh đẹp nhưng ánh mắt man mác u- sầu làm tăng thêm vẻ yêu kiều, thuỳ mỵ, ông Long nhận phong thư trong niềm cảm giác " tâm sự riêng tư thầm kín" truyền qua từ thiếu phụ, trong lúc ông Long đọc bài thư " Hai sắc hoa Ti-gôn" đề tên tác giả T.T.KH. (1) thì thiếu phụ đã rảo bước ra cửa và lẩn vào đám đông...

Tuần báo phát hành sau đó ông đã cho đăng bài thơ mà dư luận Hà Thành một thời xôn xao, bàn tán, đa số chia sẻ nổi u-hoài của một thiếu phụ điển hình có học vấn, mượn lời thơ trang trải nổi lòng... đã nói lên được tâm tư thầm kín của hàng trăm thiếu nử cùng chung một hoàn cảnh, tâm sự. Ít lâu sau đó toà soạn TTTB lại nhận thêm hai bài thơ cùng tác giả T.T.KH, lần này bài thơ: " Đan áo cho chồng" và " Bài thơ cuối cùng" lời thơ còn đượm vẻ bi thương nghẹn ngào hơn bài đầu tiên, xin mời quí vị chia sẻ tâm tình với nhà thơ..

Đan áo cho chồng
Chị ơi nếu chị đã yêu,
Đã từng lở hái ít nhiều đau thương,
Đã xa hẵn, quảng đời thương,
Đã đem lòng gởi,gió sương mịt mùng,
Hay chăng chị, mỗi chiều đông?
Đáng thương những kẻ có chồng như em,
Vẩn còn giá lạnh trong Tim,
Đan đi, đan lại áo len cho chồng.
Con chim ai nhốt trong lồng
Hạt mưa rơi rụng bên sông bơ thờ,
Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ,
Hay đâu gió đã sang bờ ly tan,
Tháng ngày miển cưởng em đan,
Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng.

Viết đoạn thư đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa
Cố quên đi nhé câm và nín
Đừng thở than bằng những giọt thơ.
Tôi run sợ viết, lặng im nghe,
Tiếng lá thu khô, tiếng mặt hè,
Như tiếng chân người len lén đến,
Song đời nào dám gặp ai về!

T.T.KH.


Trong cuộc sống khép kín, u-sầu, nàng hay mượn cây viết trang trải nổi lòng u-uẩn.. giửa đêm khuya thanh vắng, nghe tiếng lá khô rơi trên mặt đường mà mong mỏi,tưởng như bước chân người yêu đang lén hẹn đến, lòng thì mong mà lại không dám ra gặp chỉ sợ hổ thẹn với ai kia ?! lòng thì oán hờn trách móc mà con Tim thì nhớ nhung ray rứt..., mời quí vị đọc tiếp:

Bài Thơ cuối cùng
Chỉ có ba người được đọc riêng,
Bài thơ đan áo của chồng em,
Bài thơ đan áo nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem.

Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới dàn Hoa máu tiếng mưa rung,
Giận Anh tôi viết giòng dư lệ,
Là chút dư hương, điệu cuối cùng.

Tôi oán hờn Anh mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây,
Nếu không im được thì tôi chết,
Đêm hởi, làm sao tối thế này.

Năm lại năm qua cứ muốn yên,
Mà phương trời gió chẳng lặng quên,
Mà người lở dở duyên thầm kín,
Lại chính là Anh, Anh của em.

Tôi biết làm sao được hởi Trời?
Giận Anh không nở, nhớ không thôi,
Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt,
Sợ quá đi, Anh có một người.

Đang lúc lòng tôi tạm muốn yên,
Bổng ai đem lại cánh Hoa Tim,
Cho tôi ép nốt giòng dư lệ,
Nhỏ xuống cành thơ, khóc chút duyên!

T.T.KH.


Quả thật nàng cố gắng muốn sống yên bên người chồng dù không yêu, nhưng chuyện ngắn " Hoa Ti-gôn" của nhà văn Thanh Châu đăng trên TTTB đã gợi nhớ, làm sống lại trái Tim đã khô héo theo năm tháng hững hờ mà viết đôi bài thơ để giọt lệ ray rứt, nhớ thương người yêu nhỏ xuống cành thơ mang tên một loài Hoa có hình dáng như trái Tim vở mà thế nhân, mỗi khi nhắc đến còn thương tiếc cho Má Hồng Bạc Phận..; câu chuyện của Thanh Châu đăng trên báo, éo le, gây cấn như thế nào mà khiến T.T.KH phải động lòng bi lụy như vậy,chúng tôi xin tóm tắt câu chuyện khá dài, viết theo trí nhớ vẫn giữ nguyên ý của tác giả câu chuyện như sau: " Họa sư Lê có thói quen mỗi ngày hết giờ dạy vẻ ở trường Mỹ-Thuật (École des Beaux Arts) về qua phố Trường Tiền, không quên ghé hàng hoa mua một bó hoa "Ti-gôn (Tigone). Lê không đặt mua một thứ hoa nào khác trừ hoa Ti-gôn, tại sao Lê lại thích loài hoa leo dễ vở, mong manh, mau tàn héo ấy, Lê có câu chuyện lòng đầy ngang trái không thua gì câu chuyện lòng của T.T.KH:

Năm Lê 24 tuổi tốt nghiệp ngành Họa trường Mỹ Thuật, một buổi sáng đẹp trời, nắng hồng rực rỡ, chàng họa sĩ nghèo với giá vẻ bọc trên chiếc xe, Lê đạp về vùng ngoại thành Hà Nội, rẻ vào làng Mọc đi tìm họa hứng,cảnh đẹp hay đi tìm người thiếu nữ đẹp thùy mỵ, đoan trang ở trong khu biệt thự củ kỹ xinh xắn của một ông quan Phủ, quan Huyện nào về hưu quanh đây mà Lê đã gặp nàng chiều hôm trước, may quá gặp lại nàng đây rồi, Lê dừng xe, kín đáo đứng ngắm kỹ cô gái, bức tranh " Con gái hái Hoa" như in trong ký ức của họa sĩ Lê. Gương mặt trái soan với đôi mi cong dài trên cặp mắt sáng long lanh, đôi môi trái tim tươi cười vói tay hái chùm hoa màu hồng đỏ Ti-gôn bên hàng dậu, mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ cánh tay màu da trắng ngần, lòa xòa vài sợi tóc trên vầng trán, thật là bức tranh sống đẹp tuyệt vời mà người họa sĩ nhìn ngẩn ngơ, hái hoa xong sắp vào nhà trong thì cô gái mới nhìn ra đường trước nhà bắt gặp có người đứng nhìn vào, nàng cau mày tỏ vẻ không hài lòng.

Từ hôm đó, người họa sĩ trẻ thỉnh thoảng đạp xe vào làng Mọc tìm gặp lại giai nhân nhưng nàng đều lánh mặt mỗi khi thấy xe của Lê, anh chỉ được thấy nàng một đôi lần nữa thôi và ngôi biệt thự dường như không người ở, thỉnh thoảng chỉ thấy có ông lảo làm vườn trong sân. Thời gian sau, Lê cố nhớ lại nét mặt, dáng người, cánh tay trần, đôi môi cong, nhan sắc mặn mà hiếm có của cô gái, anh vẽ phát họa nhiều lần chân dung của nàng qua trí nhớ, nhiều năm sau, anh nổi tiếng vẽ chân dung đàn bà, con gái đẹp, người họa sĩ trở nên giàu có, mùa đông đến, Lê cụ bị đồ vẽ mang đi về vùng phủ Vân Nam, trong một buổi dạ tiệc do Tòa lảnh sự Pháp chiêu đải, Lê gặp lại người giống thiếu nữ hái hoa năm nào, nhìn nàng cứ ngờ ngợ đã gặp ở đâu đó, Lê tìm dịp nhảy với thiếu phụ và hỏi nàng:
- " Bà vẫn còn thích hái hoa Ti-gôn chứ?"
- " Xin lổi,Ông nói gì tôi không hiểu? ".
- " Có lẽ bà đã quên Hà-Thành, làng Mọc, ngôi biệt thự xinh xinh có giàn Hoa..


Thiếu phụ lúc ấy mới nhớ ra, đôi mắt long lanh..
- " Có phải ông là anh chàng họa sĩ đạp xe nhìn trộm tôi ngày trước đó không? "
Lê gật đầu, nàng tiếp:
-" Thảo nào mới nhìn ông tôi cũng nhớ đã gặp ở đâu rồi, tám, chín năm rồi, thế mà chúng ta còn nhận được nhau".

Giọng nói ngọt ngào, ngôn ngữ đầy thân mật khiến Lê ấm lòng giữa mùa đông băng giá, tên thiếu phụ là Mai-Hạnh, nàng không có bạn, rất cô đơn và buồn ở Vân Nam phủ với ông chồng già Lảnh sự người Pháp, được gặp lại người họa sĩ năm xưa đã chiêm ngưởng sắc đẹp con gái của nàng, nay đã nổi tiếng danh họa, nàng bắt đầu có cảm tình với Lê. Hạnh thường đến chỗ trọ thăm viếng và cho Lê vẽ chân dung nàng, dĩ nhiên lần này Lê không cần phải vận trí nhớ nữa mà vẽ người thật trước mặt, bức tranh sống, sẽ linh động biết bao. Một hôm nàng đưa Lê đi thăm ngôi chùa cổ trên núi, Lê tâm sự:

- " Tôi biết thế nào trong đời tôi cũng tìm dịp gặp lại Hạnh vì tôi không bao giờ quên hình dáng Hạnh bên giàn hoa Ti-gôn ở làng Mọc, không lẻ chúng ta gặp lại nhau chỉ có thể là bạn không thôi? "

Thế là chuyện gì sẽ đến đã xẩy ra. Lê ôm hôn nàng và Hạnh cũng không kiềm lòng được vì đã yêu chàng. Hai người đã yêu nhau như mối tình đầu đam mê, Lê định đưa nàng trốn đi sống với nhau ở Nhật, nàng nhận lời vì muốn sống theo tiếng gọi của con Tim, Lê lưu luyến trở về Hà-Nội thu xếp giấy tờ, tiền bạc để ra đi thì được thư của Hạnh gởi về từ Vân Nam phủ mà không phải một nơi nào khác như đã sắp đặt:
"Anh yêu, anh hãy quên em đi vì em không thể theo anh được, xin Anh đừng giận em tội nghiệp, em yêu anh, muốn cùng anh suốt đời bên nhau nhưng em không nỡ làm khổ Thầy me em, tai tiếng thị phi, rồi đây anh sẽ quên em còn em sẽ không bao giờ... Vĩnh biệt anh yêu,
Mai Hạnh".


Bốn năm sau, một hôm Lê nhận được một phong thư, đúng ra là điện tín báo tin của ông lảnh sự, chồng Hạnh " Elle était mort" Lê gục đầu ôm mặt khóc nức nở, khóc cho mối tình đầu ngang trái và cũng là mối tình cuối của anh. Trước khi xin thôi dạy học Lê đến căn nhà cũ anh đi tìm lại khu làng Mọc, ngôi biệt thư khi xưa đã gặp gỡ Mai Hạnh, nước mắt nhạt nhòa hình bóng cũ.. nhân thế mong manh, đời người ngắn ngủi mà ước mơ thì không trọn ! Căn nhà với hàng rào rực rở hoa Tim Tigôn hồng nỡ rộ, bùi ngùi thương nhớ cố nhân, hoa tim vẫn nỡ mà người xưa đã thành người thiên cỗ... và từ đó không ai còn gặp anh ở đâu nữa!

Vũ Long Hương

(1) Hai sắc Hoa Ti-gôn

Một chiều thu trước mỗi hoàng hôn,
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu thương.

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng,
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẵm mờ sương cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng " Hoa dáng như Tim vỡ"
Tôi sợ tình ta cũng vỡ thôi!

Thuở ấy nào tôi đã biết gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp " màu hoa trắng,
Là chút lòng trong chẳng biến suy!"

Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường..

Từ đấy thu,rồi thu, lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ,
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ,
Người ấy, cho nên vẫn hững-hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân nhạt nhẽo của chồng tôi,
Và từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn dấu trong Tim bóng một người.

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết,
Thấy ai cũng ví cánh Hoa xưa,
Nhưng hồng tựa trái Tim tan vỡ,
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu trước rất xa xôi,
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu nhạt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng. Chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây trắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi! người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa trái Tim phai, tựa máu hồng

TTKH Hà-Nội 30-10-1937.
 

HOA SOAN BÊN DÒNG SUỐI - Vũ Long Hương

Bài Viết Về Nước Mỹ của ông là Hoa Phượng Florida, nơi co hoa phượng đỏ gợi nhớ bao kỷ niệm của tuổi trẻ Việt Nam đã được phổ biến từ tháng 7, 2015. Bài viết mới của ông kể về tình đồng hương giữa người Việt tại Raleigh, thủ phủ của bang North Carolina. Leigh là biến ngữ từ chữ leah nghĩa 'Canh Đồng Nai' và Raleigh là họ của người Ái Nhĩ Lan (Ireland) gốc Anglo-Saxon đã đến nước Mỹ lập nghiệp đầu tiên tại quận Devon ngày nay từ giữa thế kỷ 12 AC.
missing
Ngôi nhà của đoi bạn Huy-Thu Hương trong 6 mẫu rừng có dòng suối thơ mộng. Hai cháu Lâm và Thảo Nhi bên suối.
Ngay đầu năm nắng đẹp 2016, đến thăm nha Huy & Hương chúng tôi lái xe khoảng hai mươi phut từ khu nam thủ phủ Raleigh đi về hướng bắc thành phố, tẻ vào con lộ cụt ngoại ô có tên là Lizei, hiện ra một xom độ mười căn nha xay gạch đỏ khang trang, nha Huy & Hương căn đầu bên phải có cổng sắt, toi đi hết con lộ rồi quanh trở lại xem cho biết xóm lạ, con trai của Huy, chau Thong ra trước cổng đon va vảy tay chung toi mơ hồ tưởng như lạc lối vào chốn thiên thai. Huy va Hương chao đon khach với nụ cười tươi, em gai cháu Thông tên Thảo Nhi cũng ra chào. Niên học ba năm trước, vợ chồng Huy đưa đon hai con va gặp con gái chúng tôi cũng đi đon con học cùng lớp nên quen nhau và nhân dịp gặp nhau khi đi dự Thánh lễ nhà thờ Saint Raphael biết chúng tôi sắp dọn nhà, Huy sốt sắng đến giup va mang đồ ăn thức uống tiếp tế ca ngày bận rộn. Ba năm troi qua mãi đến hôm nay chúng tôi mới có dịp đến thăm nha người đồng hương tốt bụng.

Giữa khu đất mượt cỏ xanh, căn nha với diện tích sáu mẫu tay đất của Huy có rừng cây cao chung quanh, tôi hỏi còn chuồng nuôi gà vịt luc trước đau rồi. Huy trả lời: - "Thưa chu co một chuồng nuôi gà, vịt độ hơn chục con trống mái, có trứng ăn hai năm trước nhưng nay khong còn vì ban đem co loai thu hoang ăn thịt gà vịt nen chau đã dở bỏ".

Bàn ghế để ngồi ngoài trời ngắm cảnh, bếp lửa trại và nhà chòi trên cây cho các cháu vui đua, chau Thong đang học lớp sáu và cháu Thảo Nhi đang học lớp ba, hai cháu thật ngoan và dễ thương, Huy & Hương với hai con là một trong muôn vạn gia đình hạnh phúc và lý tưởng nơi đất khach que người. Sau bữa ăn trưa, nhiều món hải sản Hương nấu nướng thật ngon, Huy va Hương cung hai chau dẩn đường đưa chung tôi ra suối theo lối mòn mặt đất độ dốc thấp hơn khu nha va vườn trồng hoa trai, đi xuyen qua rừng cay cao dăm phut ra thăm dòng suối nhỏ sau nha, đường mòn sạch lá có chen lẫn cỏ rêu mọc xanh rì giửa rừng cây trụi la đang rực rở hoa nắng xuyên sáng khắp rừng thưa, đam cay rừng và dòng suối reo vui vì có khách đến viếng thăm, dòng nước suối uốn quanh nghe nước chảy róc rách... thật là một khung cảnh thiên nhiên thú vị. Huy kể thỉnh thoảng có bầy nai đi qua uống nước suối dẫn con đi tìm cỏ non hay co khi đẻ con bên bờ cỏ. Tôi nói với Huy hai cháu diễm phuc co được tuổi thơ bên rừng cây suối nước thấy hươu nai giống như chuyện của nữ văn hao Marjorie Kinnan Rawlings "The Yearlings" (Con Nai Tơ) va "The Advantures of Tom Sawyer và chuyện "Huckleberry Finn" của văn hao Mark Twain ma luc nhỏ toi đã đọc qua và mê mẩn theo dõi câu chuyên phiêu lưu kỳ thú này.

Suốt đoạn đường vắng vẻ dọc theo dòng suối hai bên là cây thưa một khung cảnh thật nen thơ khong xa thanh phố quả là hiếm hoi mà chúng tôi có dịp thưởng thức... quen đi dòng đời xô bồ, quên những ưu tư sầu muộn bon chen, quên nổi đau đớn khôn nguôi mất mat than nhan va quen đời lữ thứ lưu lạc que người trong giây phút ngắn ngủi.

Tình đồng hương như liều thuốc hồi sinh cho những tha nhân vong quốc phiêu bạt mưu sinh khắp bốn phương trời. Đoi vợ chồng trẻ Huy & Hương, khoảng độ tuổi tren dưới năm mươi va hai con nhỏ đã tìm được đầt hứa nơi que hương mới mà chúng tôi may mắn quen biết, Huy kể chuyện vượt biển cả phong ba bão tố đến đảo Bataan, Phillipines lúc tuổi còn vị thanh nien như đứa trẻ mồ coi, bước chân khó khăn đến đất hứa chăm chỉ học hanh ra đại học ngành chuyên môn về lập trình viên và gặp Hương qua người giới thiệu trong nhom hướng đạo công giáo thuộc quận Wake thành phố Raleigh.

Hương học nganh y sau khi ra trường làm việc với các bác sĩ trong các bệnh xá, quyết định mở phòng mạch khám bệnh ma đặc biệt khám bệnh cho người lương thấp không lấy tiền, chung toi được biết Bác Sĩ Thu Hương (*) danh một giờ cho mỗi bệnh nhân cho nên chỉ nhận tám bệnh nhân mỗi ngày, quả là một mẫu người hiếm hoi mà chúng tôi gặp trong đời sống hiện đại. Xin viết thêm về đồng hương tại Raleigh, North Carolina có ba Bác Sĩ nữ là Bác Sĩ Trịnh Thu-Hương, Bác Sĩ Nguyển Mai Trang có phòng khám riêng và Bác Sĩ Cẩm Tú làm việc tại nha thương Duke. Nghe Huy phu quan Bác Sĩ Hương kể chuyện có bệnh nhân lớn tuổi qua Mỹ theo diện H.O đến khám qua giới thiệu của bà Thọ chủ tiệm tạp hóa Far East Grocery, bệnh cao áp huyết có phần nguy cấp phải gọi xe cấp cứu chở đến nha thương Rex va chửa trị kịp thời sau khi nằm dưởng bệnh vài ngày, Huy tận tình lo thủ tục và làm hồ sơ miển trả tiền viện phi tinh ra tren mười ngàn Mỹ kim.

Trước luc chia tay đứng cạnh hai cay cao to như cay rừng, gia chủ cho chúng tôi biết hai cây mầu hoa tím và có mùi hương, la hoa Xoan... viết đến đay chung toi nhớ lại bản nhạc "Hoa Xoan Bên Thềm Cũ" (*) của nhạc sĩ Tuấn Khanh. Bản nhạc đã một thời vang bóng khi chúng tôi còn trẻ vào thập nien sau mươi, lời nhạc diển tả mối tình của đoi trai gái, nàng chờ tình quân đang xong pha bien ải giữ gìn non sông, một hôm chàng trở về thăm co thon nữ yêu kiều đoi ngay rồi chia tay hẹn một ngày mai thanh bình suốt đời bên nhau. Xin trích một đoạn dưới đay: "Khi nắng nhẹ vương tren lưng đồi, xa vắng miền quê bao năm rồi, về gặp em ngay thơ duyen dang, hom xưa tiễn anh nơi cuối làng.

Khi tới đầu thôn tim rộn rang, mơ ước mộng xưa chưa phai tan, ma hom nay sao vui qua, lang lang như lạc vao động hoa. Tới trước ngõ cũ nghe kể rằng, giặc tràn qua thôn xóm, gieo bao đau thương bao đieu tan, từ ngày anh vắng xa. Nay qua đau thương yen bình rồi, tình ta lên hương ngat, như hương hoa xoan vang ben thềm nhẹ nhang như ngat say. Anh nhé mình yêu nhau muôn đời, anh giữ gìn biên cương xa vời, đừng buồn khi xa nhau anh nhe, thăm em đoi ngay rồi anh đi ". Hết trích.

Bọn giặc đã tràn qua thôn xóm gieo bao đau thương đieu tan sinh linh vạn vật miền que hoa Xoan năm xưa, nhiều thập nien sau co đoi uyen ương Huy & Hương tìm lại được hoa Xoan nơi đất mới tại thủ phủ Raleigh, (*) sống hạnh phúc với hai con thơ, nắng vẫn nhẹ vương tren ngan cay thảm cỏ va mơn man troi theo dòng nước, chúng tôi chào từ giã khong quen cam ơn gia chủ và hẹn gặp lại nhau cùng ngắm hoa Xoan bên dòng suối khi mua Xuan đến./.

Vũ Long Hương
 

HOA PHƯỢNG MIỀN NẮNG ẤM - Vũ Long Hương

Mỗi năm hè đến các cô cậu học trò lo học thi lên lớp thi ra trường và cũng là mùa chia tay cuối năm học. Không ai trong chúng ta mà không một lần nghe qua bản nhạc " Nổi buồn hoa Phượng" của nhạc sĩ Thanh Sơn 'Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,.. .' Biết bao văn thi nhạc sĩ ca ngợi mùa hè và hoa Phượng. Tôi xin mạo muội viết bài này để quí vị cư ngụ các bang ngoài Florida có dịp đi du lịch nghỉ hè hay mùa đông làm chim trốn tuyết bay về miền nắng ấm đông nam nước Mỹ : nam Florida. Nếu đi vào mùa hè quí vị sẽ có dịp tìm gặp lại hoa Phượng, màu hoa của kho tàng kỷ niệm của một thuở vui buồn tuổi học trò áo trắng dưới mái học đường năm xưa.

Từ sau ngày vong quốc năm 1975, chúng ta rời quê hương Việt Nam yêu dấu bằng mọi cách mọi phương tiện. Sống trên quê hương thứ hai, gần như không ai còn dịp nhìn hoa Phượng.. có lẽ một phần vì phải đương đầu với cuộc sống mới nơi xứ lạ quê người, phần vì nhiều nõi thời tiết địa lý nằm trong vùng ôn hàn đới khó mà tìm được hoa phượng. Thế nên xin mời quí vỉ viếng vùng nam Florida vào các tháng May, June và July sẽ có dịp ngắm hoa Phượng.

Hai bên liên bang lộ I- 95 từ quận " Bải Dừa Tây " ( West Palm Beach ) xuôi về nam có nhiều cây Phượng để làm đẹp phong cảnh, các công viên không chỉ có hoa Phượng mà còn rất nhiều loài hoa làm cho mùa hè thêm rực rỡ như hoa Giấy đủ màu sắc, hoa Ðiệp, hoa Trúc đào v.v Xuôi về Nam đi làng Key West qua khỏi thành phố Miami khoảng một giờ lái xe, chỉ có một xa lộ nối liền các hải đảo, khi đến thành phố Key Largo , quí vị sẽ thấy rất nhiều cây hoa Phượng dọc hai bên đường và rải rác khắp các đường phố, ngoài hoa Phượng màu đỏ rực rỡ, lại có hoa Phượng màu cam nhìn thật là dịu mắt. Phượng màu tím thỉnh thoảng cũng thấy nhưng không nhiều bằng các công viên tại các tiểu bang miền tây.

Trở lại vùng phố Key Largo một ngày nắng đẹp miền Nam bên rừng hoa Phượng Vĩ rực rỡ , nghe giọng ve sầu ca vang vang đâu đây lòng chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ đến một thời áo trắng học trò năm xưa, những cảm giác vui buồn, rộn rã, nao nức của thuở nào hầu như đã quên lãng theo tháng năm, những hình ảnh nét mặt ánh mắt nụ cười tiếng nói của các bạn học trong dĩ vảng như đang sống lại như cô đọng trong một "giây phút" ngắn ngủi, cảm giác như đi trong mơ đã đưa tôi trở lại theo giòng thời gian những năm tháng xa xưa... Ngước nhìn lên bầu trời xanh lơ hoa nắng lấp lánh chen lẫn với màu vàng cam đỏ bay theo những cánh Phượng lung linh rơi theo gió lay, rơi nhẹ nhàng như mưa phùn bay rớt mặt đường trên cỏ xanh, dẩm bước chân trên những cánh Phượng tưởng như những "giọt mưa phượng" còn đọng chưa tan.

Làng Key West du khách có thể đến viếng thăm tư gia của đại văn hào Hemingway và trời biển bao la. Chúng ta chưa được may mắn như nhà văn của xứ Estonia, ông đã trở lại ngôi nhà cũ của ông nội mà thuỡ thơ ấu ông và gia đình đã phải bỏ lại đi lánh nạn, quân Cộng Sản Nga đã xâm chiếm. Thập niên 90, ông đã "Trỡ về mái nhà xưa" và có dịp viết cuốn sách với lời tựa : "You can come home again".

Bao giờ sẽ đến lượt chúng ta trở lại quê xưa, trường cũ với cây đa bóng mát , với giòng sông êm đềm , với đồng ruộng bao la, mà tuổi ấu thơ theo tháng năm lớn lên đầy ắp với bạn bè cùng trường, cùng xóm bao kỹ niệm vui buồn, với cô bạn học cùng lớp mà mỗi lần gặp nhau lòng rộn rã niềm vui ngẩn ngơ dõi trông theo mái tóc đen dài đến mãi tận cuối thôn; hy vọng đến lượt chúng ta được "trở lại mái nhà xưa" sẽ không xa.

Trở lại mùa hè và hoa Phượng, tôi xin mời các bạn cùng thưởng thức bản nhạc " Phượng Hồng" của Vũ Hoàng, phổ thơ của Ðỗ trung Quân, để nhớ lại tuổi hồng học trò mà mối tình đầu vẫn còn e ấp trong tim chưa lạt phai:

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng,
Em chở mùa hè của tôi đi đâu,
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18,
Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu.
Mối tình đầu của tôi
Là cơn mưa giăng giăng ngoài cửa lớp,
Là áo ai bay trắng cả giấc mơ
Là bài thơ còn hoài trong vở,
Giữa giờ chơi mang đến lại mang về.

Cánh phượng hồng ngẩn ngơ,
Mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ trên cây,
Và mùa sau biết có còn gặp lại,
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay.
Mối tình đầu của tôi
Nhờ cây đàn buông tiếng xa xôi,
Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu,
Nên có một gã khờ ngọng nghịu đứng làm thơ.

Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nắng ngập đường một vạt tóc nào xa. 
Dường như không nơi nào trên đất Mỹ mùa đông nắng ấm bằng tiểu bang Florida được mệnh danh là " Sunshine State", nhất là vào mùa đông khi miền bắc ngập dưới tuyết phủ giá băng thì miền nam Florida vẫn chan hòa nắng. Du khách từ miền Bắc Mỹ trốn tuyết về Florida (gọi là "Snow Birds") để tắm nắng tắm biển. Vào mùa đông nhiều du khách đến vùng biển Key Largo, Key West, Miami, West Palm Beaches, nếu giàu tưởng tượng một chút thì chúng ta coi những nơi này như Vũng Tàu, Long Hải, Nước Ngọt hay Phước Hải của Phước Tuy, Bà Rịa năm xưa.

Vùng nam Florida vào mùa hè cũng không quá nóng, nhiệt độ trung bình khoảng 85-90 độ F. Công viên đường phố Key Largo trồng nhiều hoa Phượng nhất so với các thành phố khác, rực rở nỡ hoa vào dịp hè, du khách sẽ có dịp ngắm hoa, nghe lại tiếng ve sầu ca vang vọng khúc nhạc buồn mênh mang như bài "vong quốc hận" và nếu quí vị từ các bang ngoài Florida khi có dịp du lịch vào mùa hè quý vị hỏi thăm bà con đồng hương sẽ được chỉ dẩn đến những nơi có trái chín cây vùng nhiệt đới như trái Xoài, Vải, Nhản, Mít, Ổi, Me, Mản cầu, Thanh Long v.v...

Chương trình phim nhạc Vân Sơn gần đây một DVD nhạc có tựa đề là " Quê Hương Gặp Lại" phim trường phong cảnh là vườn cây hoa trái từ miền Nam tiểu bang Florida. Nhìn hoa phượng và cây trái giống như quê nhà mà cứ tưởng như “Quê Hương Gặp Lại” thì ra chúng ta đang sống yên lành nơi quê hương thứ hai thiên đường hạnh phúc đến đâu đi nữa cũng không thể nào quên cố hương quê nghèo dấu yêu nơi chúng ta sinh ra và trưởng thành trong ngút ngàn khói lửa chiến tranh và tận cùng trong nổi mất mát khổ đau của thân phận bại vong tù đày!

Vũ Long Hương
June 2009
 

MỘT NGÀY RẢNH RỖI - Võ Ngọc Bửu

Sáng Chủ nhật. Tự cho mình một ngày rảnh rỗi. Chọn, từ kệ sách, tờ tạp chí Văn phát hành gần nhất để đọc. Đa số các bài viết đều hay. Có mấy truyện ngắn nói về nỗi nhớ quê hương. Trong một truyện, tác giả đã dịch lại, từ bài viết của một nhà văn được giải Nobel, khoảng một trang phân tích chữ nostalgia. Một sự phân tích rất thông thái vì có dẫn chứng tiếng Pháp, Đức, Hi Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan. Phục ông nhà văn nầy thật. Nhưng có cần phải phân tích tỉ mỉ một tình cảm như thế hay không nhỉ?

Trưa. Gọi điện thoại một người bạn ở Kansas đã lâu không liên lạc. Bạn vắng nhà. Người vợ trả lời. Cũng là bạn học cũ nên nói chuyện rôm rã, khá lâu. Nhắc lại lần tình cờ về Bà Rịa cùng thời gian và họp mặt với bạn bè cách nay mấy năm. Nhắc tên nhiều người bạn cùng lớp còn kẹt lại VN. Bỗng dưng nhớ quê.

Buổi tối. Ngồi ăn cơm. Thinh không vợ chồng cùng nhắc đến những người trong gia đình còn ở bên đó. Lại nhớ.

Ba tôi là lính. Mặc dù không phải lính tác chiến, nhưng ông bị thuyên chuyển luôn vì tính ba gai, ưa choảng nhau với cấp trên. Mỗi lần đổi nhiệm sở là ông lại mượn một chiếc GMC hoặc Dodge 4x4, chất vợ con và đồ đạc lên xe, tự lái về đơn vị mới. Lần cuối cùng, vì đòi bắn viên thiếu tá chỉ huy phó ngành lúc ông ta đến thanh tra đơn vị, ba tôi bị giáng cấp và bị đày đi quá xa. Không thể mang vợ con theo được, người quyết định về cất nhà trên miếng đất di sản của ông ngoại tôi ở Bà Rịa. Miếng đất bên ni cũng rng, nhưng người không chọn vì An Ngãi không được an ninh, tối nào Việt Cng cũng về. Năm đó tôi đang học đệ tam ở Tây Ninh.

Thật ra Bà Rịa không hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Ba tôi dù tha phương nhưng năm nào cũng dẫn vợ con về thăm quê vào ngày giỗ ông ni tôi và những dịp cúng đình Phước Lễ hoặc An Ngãi. Đôi khi giỗ ông ni tôi được cúng tại nơi gia đình tôi đang ở nếu thời gian đó bà ni tôi ở cùng. Tuy nhiên, ba tôi cảm thấy ray rức nếu năm nào bỏ lở một lần cúng kỳ yên. Hình như ba tôi và các bạn của ông hẹn gặp nhau hàng năm vào các dịp ấy. Đó là những dịp mà tôi được nghe ba tôi mày tao một cách thoải mái với bạn bè và nhắc những chuyện cũ rích được lặp đi lặp lại mỗi khi họ tụ họp.

Cũng có những kỳ hè tôi về An Ngãi ở cả tháng với ni. Đó là chưa kể đến những lần má tôi giận ba tôi dẫn các con về ở cả tuần lễ, mươi ngày bên ni hoặc ngoại. Có lẽ vì vậy mà tôi thích, nhớ những chiếc xe đò hiệu Renault sơn màu vàng, mà bà ni tôi gọi là xe con heo, chất đầy hàng hóa trên mui với người lơ luôn miệng rao ‘‘Sài Gòn, Bà Rịa, Cấp đây !!!’’ mà chữ đây luôn được lên giọng, kéo dài ở cuối câu rao. Nhớ những chuyến xe đó là nhớ cả những nỗi háo hức của thằng bé lên mười được về quê cha, đất tổ. Có lẽ cũng vì thế mà tôi thích cái nhóm tên ‘‘Sài Gòn, Bà Rịa, Cấp’’ hơn là ‘‘Sài Gòn, Phước Tuy, Vũng Tàu’’ dù rằng nhóm tên sau có vẻ mới và văn hoa hơn được sơn vẻ trên những chiếc xe đò màu xanh lớn hơn, sang trọng hơn những chiếc xe con heo dần dần biến mất sau nầy.

Vậy mà mãi đến cuối năm đệ tam tôi mới biết và thấy trường trung học Châu văn Tiếp.

Không thể nhớ ngày đầu tiên tôi đã vào lớp Tam B2 như thế nào. Tự mình mang giấy vào lớp trình giáo sư hay thầy Tổng Giám Thị dẫn xuống? Nhưng tôi nhớ rõ hôm đó là ngày thầy hiệu trưởng Dương (hay Vương?) chuyển nhiệm sở, đến các lớp để chào từ giả học sinh. Tôi nhớ như thế vì thầy trông rất giống một người cậu họ của tôi. (Buổi tối, lúc ăn cơm, khi tôi hỏi thì má tôi nói là không phải. Người cậu ấy chưa bao giờ rời các lớp dạy kèm tư gia của ông ở đường Hàng Keo, Bà Chiểu).

Cũng không thể nhớ do đâu mà tôi được xếp ngồi vào chổ mà tôi ngồi cho đến hết năm đệ tam và hình như trọn cả năm đệ nhị. Tuy nhiên, những chuyện trục trặc ban đầu xung quanh chổ ngồi đó thì không thể quên được. Nó đầy ắp tính hồn nhiên của tuổi học trò quyện trong cái hung hăng buồn cười của những thằng con trai mới lớn. Đó cũng là sự khởi đầu của những tình cảm bạn bè tôi có được tại quê hương của ba má tôi (và cả của tôi) kéo dài cho đến tận bây giờ. Số là tôi được xếp ngồi cạnh Lê Minh Chí, chổ của Thai ‘‘Con Ông Giời’’ (như nó thường xưng đùa). Hôm đó nó nghỉ. Ngày hôm sau nó vào, đuổi tôi đi chổ khác. Tôi không chịu đi, bảo là đã được xếp ngồi chổ đó. Khi ấy chưa đến giờ vào học. Cãi nhau một lát, nó đòi nện tôi. Ngắm nó, tôi không sợ, vì cũng nhỏ con như tôi. Tuy nhiên, khi nhìn chung quanh thì tôi chờn vì không có mặt quen nào cả. Tôi lẳng lặng gom mấy quyển vỡ đi xuống ngồi ở bàn cuối lớp. Thật ra khi còn học ở Tây Ninh tôi thích ngồi ỏ dãy bàn cuối. Ngồi cuối lớp dễ nghĩ vơ vẩn, dễ làm thơ hơn khi chán nghe những lời thầy, cô trên bục giảng. Nhưng Chí không chịu như thế. Giờ chơi, nó gây với thằng Thai, hai đứa cãi nhau khá sôi nổi, rồi Chí lôi tôi lên ngồi giữa nó và Thai. Tôi biết Thai tức lắm nhưng không nói gì. Mấy hôm sau nó xuống bàn ở hàng kế ngồi cạnh Vũ Đức Khoát. Khi chơi lâu với nhau tôi hiểu Thai là một thằng tốt bụng dù ăn nói có vẻ ngang tàng, khệnh khạng. Hôm đó nó không làm to chuyện có lẽ vì nó và Chí chơi chung một nhóm mà sau nầy trong đó có tôi.

Đó là nhóm khoảng mười đứa thường hay tụ tập ở nhà Nguyễn Chí Thành mỗi khi có giờ nghĩ giữa buổi hoặc về sớm. Nơi nầy cũng là điểm hẹn tập trung để cùng đi chơi xa hoặc chỉ để ngồi tán dóc. Chí Thành là đứa hiền nhất trong nhóm, ít nói, chỉ cười cười nghe bạn bè tán huyên thuyên. Tuy nhiên, khi góp chuyện thì mới thấy là anh chàng hóm hỉnh và tinh ý chẳng kém ai. (Ti nghiệp, người hiền thường hết yểu, nó chết thãm trong những ngày cuối tháng tư bãy lăm khi tan hàng, chạy từ Xuyên Mc (?)về Bà Rịa) Bọn chúng tôi thường đạp xe sang Vũng Tàu kéo nhau lên thăm cốc nơi ba của Chí Thành tu ở lưng chừng núi nhỏ. Cả bọn để xe đạp ở cốc, kéo nhau li b theo đường mòn xuống tắm ở bải Dứa hoặc Ô Quắn. Có lần rũ nhau trèo theo sợi dây neo để lên chiếc tàu mắc cạn, sục sạo hết cả các phòng ở đó, chui cả xuống tận tầng hầm máy. Có lẽ đi cả bọn nên mới gan như thế, chứ nếu trèo vào một mình chắc là tôi không dám. Trong bọn có mấy đứa bơi giỏi như Lê Minh Chí, Nguyễn Kim Sơn, Chí Thành thường bơi ra xa. Bọn kém cỏi như tôi thì chỉ dám hụp lặn ở nơi nước ngang đến vai hoặc kéo nhau đi dài theo bãi cát để ngắm các cô rồi bình phẩm, tán phét với nhau. Vậy thôi. Tuổi 16, 17 của chúng tôi ngày xưa chỉ đến mức như thế.

Đến giữa năm đệ nhị đứa nào cũng lo gạo bài nên thưa dần những buổi tụ tập để tán gẫu hoặc kéo nhau đi chơi. Tôi thì lại càng ít gặp bạn bè trong nhóm hơn nữa. Số là, thời gian đó ba tôi được thuyên chuyển từ Pleiku về Đà Lạt. Ông lại đem má tôi và các em nhỏ lên ở trên ấy. Tôi và thằng em trai kế ở lại Bà Rịa học cho hết niên khóa. Ba tôi đã chuẩn bị sách vở khá kỷ lưởng cho việc học thi Tú Tài một cũa tôi. Ông mua thêm một số sách bài tập toán, lý, hóa ngoài những sách giáo khoa và dặn tôi cố gắng làm cho hết những đề thi trong đó, nhất là quyển Toán Hình Học Không Gian của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Ba tôi cũng dặn tôi hằng đêm thắp nhang bàn thờ Phật và ông ni, ông ngoại. Người dặn đi dặn lại nhiều lần là phải thường xuyên quét dọn sạch sẽ bàn thờ và trông chừng em, đừng đễ nó đi chơi hoang. Thằng em trai có vẻ rất vui vì sẽ được thoãi mái. Riêng tôi thì có hơi lo. Ở xa cha mẹ mà thi rớt thì dể bị đổ lỗi là do ham chơi, lười học. Thêm nữa, vài ngày sau khi ba má tôi và các em rời nhà để về Đà Lạt, trong khi quét dọn bàn thờ tôi nhặt được một mảnh giấy nhỏ dằn ở dưới hình của ông ni. Nét chữ của ba tôi, nhưng là lời thư của ông ni khuyên tôi chăm học, thi đậu để ba má được vui. Tôi đã lặng người đi một lát rồi cười cười, cất mảnh giấy vào trong quyển Toán Hình Học Không Gian, trở lại cuc đánh vật với các quyển bài tập toán, lý hóa bằng quyết tâm cao hơn cả trước đó. Lê Minh Chí và Lưu Minh Tứ đến gạo toán với tôi mấy buổi rồi thôi vì cải nhau trong việc chọn sách để làm bài tập. Mặc kệ, tôi nhẫn nha học một mình.

Vậy mà cái tính thơ thẫn, văn nghệ cũng không chừa. Tôi tiếp tục làm thơ, những bài thơ ngôn từ trau chuốt mà ý tứ vô hồn, chép vào một quyển tập, đi đâu cũng mang theo. Lại tấp tểnh viết truyện dài, viết theo văn phong thời thượng của Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu. Viết đâu được hơn trăm trang giấy học trò thì tịt ngòi, quẳng quyển tập sang một bên và lao đầu vào chương trình văn nghệ Tết của trường với Hồ văn Hải, Trần văn Lòng, Nguyễn Kim Sơn. Năm đó tôi dàn dựng một vở kịch vui, chẳng ra đầu cua tai nheo chi cả, vậy mà bỏ cả học để tập dượt, vai nữ do Bích bên Nhị A thủ diễn. Lại còn có một màn tôi ngâm thơ, Hồ Hải thổi sáo. Hay thê thảm đến nỗi Kim Sơn theo chọc hoài khiến hai thằng tôi nổi quạu suýt choảng nhau với nó. Năm đó thầy Cư dạy Việt Văn tổ chức thi bích báo. Tôi không là trưởng ban báo chí của lớp mà làm tài lanh đứng ra thực hiện tờ báo. Không ai đóng góp bài vở, tôi làm một mình từ trang trí, viết truyện ngắn, bình luận, thơ, tùy bút với nhiều bút danh khác nhau. Tờ báo có cả phần phỏng vấn các thầy cô. Để tạo sự khác thường, tôi chỉ chơi toàn màu đen, ngoại trừ tên của tờ báo được tô màu vàng với bóng nổi màu xám sậm. Phần minh họa tôi mô phỏng theo nét vẻ của Trịnh Cung, Nguyễn Trung là những họa sĩ mà thời gian đó tôi rất thích. Tôi nhớ Nguyễn Kim Sơn có giúp tôi chép một bài. Khi tôi mang tờ báo vào lớp để trỉnh làng, ai cũng cười và gọi là tờ báo Hynos Anh Bảy Chà. Vậy mà trời ạ, nó lại được giải nhất. Trong buổi văn nghệ Tết của trường truởng ban báo chí của lớp là Vương thị Cúc đã hảnh diện lên nhận giải, một phong bì tiền thưởng, rồi sau đó trao lại cho tôi. Đối với bọn học trò chúng tôi thì số tiền đó khá nhiều. Tôi và mấy đứa trong lớp kéo nhau đi uống sinh tố ở đầu chợ cũ, có cả Vương thị Cúc. Lúc uống nước tôi hứng chí đề nghị Cúc, với tư cách trưỏng ban báo chí, dùng tiền thưởng nầy để thực hiện một đặc san, báo in hẳn hòi, cho lớp. Cô nàng cười cười, lắc đầu từ chối nói là không làm nổi đâu. Tôi hiểu rằng chẳng ai liều mạng như tôi nên thôi. Tiền thưởng còn lại bao nhiêu, tôi rủ các bạn đi Vũng Tàu xài cho hết, nhưng chẳng ma nào chịu đi. Rốt cuc chỉ có tôi và Hồ Hải rủ nhau đạp xe qua Vũng Tàu uống bia, ăn ht vịt ln, rồi ra biển ngồi cho đến khi tỉnh rượu mới đạp xe trở về. Tôi nhớ khi ngồi đấu láo ở ngoài biển Hồ Hải có phun ra câu thơ ‘‘Cát nằm lõa thể xem em tắm’’. Nó đắc ý lập đi lập lại hoài khiến tôi đến phát bực, phải lên tiếng gắt nó mới thôi. Nhớ lại mà tức cười.

Nhắc đến thầy Cư, tôi nhớ có một lần thầy chọn trong lớp hai nhóm làm thuyết trình về đề tài ‘‘Nguyễn Công Trứ có phải là anh hùng hay không?’’ Tôi xung phong làm thuyết trình viên cho nhóm thừa nhận, thủ lỉnh nhóm phủ nhận là Thuấn. Trước ngày thuyết trình, Lê Minh Chí xem bài viết của tôi và nói rằng tôi sẻ thua vì nó đọc ở một quyển sách giáo khoa nào đó nói rằng Ngyễn Công Trứ chưa đạt đến mức là một anh hùng. Tôi không đồng ý, nói với nó rằng không lẻ tác giả một quyển sách nào đó nói như thế mà tôi phải nói khác với ý của mình nghĩ hay sao? Đây đâu phải là toán học để nhất định rằng một với một là hai theo như sách vở. Nó im lặng không nói gì sau khi phán thêm một lần nữa là tôi sẽ thua. Tôi nhớ lại sự việc nầy không phải vì sự thắng thua mà buồn cười vì buổi tranh luận tại lớp hôm đó không hiểu tại sao tự nhiên đổi đề tài một cách ngang xương. Số là khi tôi thuyết trình xong thì không ai chất vấn gì cả, nhưng sau khi Thuấn trình bày xong lập luận phủ nhận tính cách anh hùng của Nguyễn Công Trứ thì bị ai đó vặn vẹo. Thuấn hùng hồn bênh vực lý lẽ của mình, rồi đt nhiên, tôi không nhớ vì lý do, đùng một cái cả lớp xoay quanh tranh cải về Freud và cái libido của con người. Cả lớp và đến cả thầy Cư cũng bị lôi cuốn vào đề tài mà quên béng nhân vật chính phải được đề cập ngày hôm đó là nhà thơ nổi tiếng trong văn học sử, đã từng làm đến Binh B Thượng Thư triều Nguyễn và cũng một lần xuống cấp làm người lính gác cổng mà vẫn hiên ngang giữ được khí phách của mình. Thuấn và thầy Cư đã say sưa tranh luận về đề tài ngoài dự kiến đó. Tôi thì ngơ ngác vì cuc tranh cãi lạc đề. Mãi đến lúc gần hết giờ thì ông thầy mới sực nhớ và tuyên bố nhóm của chúng tôi thua. Thầy cũng nhắc đến lập luận của tác giả quyển sách mà Lê Minh Chí nói với tôi hôm trước để kết luận nhóm chúng tôi sai vì Nguyễn Công Trứ chỉ đến mức là một hào kiệt mà thôi. Tôi chưa kịp lên tiếng thì chuông đến giờ ra chơi đã reo. Kết quả nhóm tôi tám điểm, nhóm Thuấn điểm mười. Điểm thấp hơn đối với tôi không quan trọng vì hôm đó tôi được biết thêm nhiều điều quanh cái gọi là libido. Cũng từ hôm đó Thuấn có biệt danh là Thuấn Libido, hình như là do Trương Hồng Đạt đặt.

Năm đó, Mậu Thân, tôi lên Đà Lạt ăn Tết và kẹt cả tháng ở trên đó. May mà tôi cẩn thận đem theo mớ sách học. Không đi lang thang được vì đánh nhau khắp nơi trong thành phố, tôi đành vùi đầu vào học. Lúc đó tôi mới biết mình rớt lại phía sau khá xa so với thời gian biểu của chương trình học. Gạo bài thì không sợ. Cái sợ nhất lúc đó là không làm nổi những bài toán đã từng là đề thi tú tài ở Algérie, Madagasca, Maroc, v.v... đầy trong các quyển bài tập toán Hình Học Không Gian và toán Điện mà tôi có được. Hình như tôi không có khiếu về toán.

Trở về Bà Rịa, mang theo lời dặn dò phải ráng học để thi đậu mà ba tôi lập đi lập lại ở bến xe, tôi có lúc hơi khủng hoảng khibị bí nhiều bài toán. Sau trận Mậu Thân, Việt Cộng về những vùng kém an ninh để bắt lính, đôn quân. Buổi tối, nam sinh khoảng tuổi mười lăm, mười sáu trở lên ở vùng Long Điền, Đất Đỏ kéo nhau về Bà Rịa ngủ nhờ ở nhà người quen. Lúc đó, buổi tối ở nhà tôi vui lắm. Nguyễn văn Vân (Tám Nướng) và Nguyễn văn Tốt (Tốt lé) ở Long Điền lên ngủ nhờ. Nguyễn Kim Sơn, dù ở gần đó cũng ham vui, đến nhà tôi ngủ để đánh cờ với ông Sáu, người ở trong đất của ông ngoại tôi. Thời gian đó Lê Minh Chí trở lại gạo toán với tôi mỗi buổi chiều và ở lại cho đến tối để tham dự những ván cờ cùng với ông Sáu và Sơn. Là một thằng mê cờ tướng nhưng Chí, cũng như tôi, biết giật mình vì nỗi sợ thi rớt; được hơn một tuần nó không ngủ đêm ở nhà tôi nữa. Nó nói những buổi tối ngủ lại nhà tôi sẽ phí thời gian vì những ván cờ tướng. Tôi nói lại điều nầy với Sơn và khuyên nó đừng mê cờ tướng, nó giận, không đến nữa. Ông Sáu cũng không sang chơi vì thiếu bạn cờ. Buổi tối tôi lại lặng lẻ học một mình ỡ buồng trong, phòng ngoài là giang sơn của Vân, Tốt.

Trong những người bạn Châu văn Tiếp, Lê Minh Chí là người tôi thân nhất cho đến sau khi đã rời ghế nhà trường, đứa đi làm công chức, đứa bị đng viên. Chúng tôi thân nhau có lẽ vì cùng thích đọc tạp chí Văn và những quyển truyện mà đa số mọi người chê là khô khan, mà có lẽ cũng vì hai thằng đều thích nhậu từ khi còn đi học. Nó là người hiểu và phê bình tới nơi những bài thơ của tôi, đôi khi làm tôi đến phát bực. Nó cũng là người đầu tiên mà tôi dẫn đến nhà người con gái Vũng Tàu, sau nầy là người bạn đời của tôi cho đến bây giờ. Nó cũng là thằng bạn nhậu lết bánh của tôi sau bảy lăm khi hai thằng cùng về ở Vũng Tàu khi ra tù Cng Sản. Nó cũng là người mà tôi dùng chữ tri kỷ để nhắc đến khi làm bài thơ khai bút cái Tết đầu tiên trong tù:

Tri kỷ tại hà phương, bất tri. Cố hương thậm cận, bất hồi quy. Xuân lai bất kiến hoàng mai tiếu. Vô dực ưu hoài bất khả phi.

Năm đó tôi thi Tú Tài một ở trung tâm Trần Hưng Đạo ở đường Cống Quỳnh. Cũng may mà đậu vì bài toán Hình Học Không Gian, tôi nhớ là bài toán về tứ diện, khá dễ nên tôi làm trọn, không bị bí.

Năm học kế tôi chuyển về Đà Lạt.

Ba tôi rời quê nhà từ sau khi cưới má tôi, vì vậy ông rất quý bạn đồng hương. Thuở luân lạc ở các tỉnh xa, gặp người Bà Rịa nào ông cũng nói với anh em chúng tôi là bà con. Có lẽ vì vậy mà đối với tôi, dù học nhiều trường ở các tỉnh khác nhau, Bà Rịa và trường Châu văn Tiếp vẫn có một cảm tình sâu đậm hơn nơi khác. Củng có thể là vì sau nầy tôi về làm việc tại tỉnh nhà và sinh sống ở Vủng Tàu sau khi ra tù Việt Cng cho đến khi định cư ở Mỹ. Hồi đó lớp Châu văn Tiếp chúng tôi sau khi đậu Tú Tài hai vẫn thường về họp mặt hằng năm. Không đông, khoãng hơn hai mưoi người cho cả mấy lớp, vì đa số vào lính, đơn vị ở tỉnh khác.Tôi không nhớ hết các lần họp mặt đó, nhưng nhớ một lần mượn địa điểm ở trường Sĩ Tải, một lần ở nhà Ngô Đức Dũng, hai lần ở nhà chị Liên (con ông bà Xã Vàng). Nam nữ gặp nhau nói cười tự nhiên, không còn e dè như khi xưa, thời áo trắng. Có tán tỉnh nhau hay không thì chẳng biết. Lần họp mặt ở nhà chị Liên vào mùa Noel năm bảy mươi ba, tôi có dẫn vợ tôi đến. Lúc đó mới đám cưới được vài tuần, tôi bị trách khá nhiều vì không mời bạn bè dự tiệc cưới. Dĩ nhiên tôi chỉ biết cười trừ trả lể và hiểu rằng trách cứ nhau chỉ vì có cớ để mà trách vậy thôi. Khi ấy chúng tôi đều ở lứa tuổi đôi mươi.

Ngoãnh lại, lớp chúng tôi bây giờ đều trên dưới sáu mươi. Có dịp gặp nhau ở các lần họp mặt Châu văn Tiếp, hỏi ra thì đa số đều là ông bà ni, ngoại. Tuy vậy, nhìn nhau kỹ thì vẫn còn nhận ra những nét đc đáo hay cá tính riêng của mỗi người. Khi đó như thấy lại cả một thời mới lớn.

Phóng bút viết lăng nhăng, nhớ đâu viết đó, chẳng ra thể thống văn bài chi cả. Bỏ thì tiếc công, mà đọc thì tự cảm đng mình ên. Thôi thì cứ gửi đăng. Xem bạn bè nào có ý kiến chi không ?

Mà nè, Ái ơi ! Tao có hỏi Tuấn, vợ của Lc đen, thì bà ấy nói rằng lớp mình là Nhị Bê Hai. Bê Một là lớp Anh văn. Tao hi vọng là đàn bà nhớ dai hơn đàn ông. Thôi thì kỳ họp mặt nầy tụi mình hỏi lại bạn bè trong lớp cho chắc ăn. Ái há !

Võ Ngọc Bửu
 

DÙ CHỈ MỘT LẦN THÔI - Nguyễn phước Hải

Tại thành phố xa lắm. Xa hơn 20 giờ bay từ Mỹ Quốc.
Một tiệm sửa xe gắn máy nhỏ có từ lâu vẫn hoạt động chừng mực. Như ngày nào, không thay đổi hình dáng, không mở mang rộng rãi. Khuyếch trương thêm sao được với ngôi làng ven vùng nước mặn cát trắng hiền hòa đa số dân cư sống bằng nghề đi biển. Nơi đây người chủ sửa xe đã ngoài 60 phải chăm chĩ làm việc để bù đắp lợi nhuận không được cao. Gia đình chẵng được sung túc nhưng cũng không thiếu thốn trầm trọng. Hai con lớn lập nghiệp ở phương xa và con út sắp vào đại học nên cuộc sống cũng dể thở. Tiệm đều đặn mở cửa từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều.

Khi vắng khách, ông thường đăm chiêu nhìn về hướng xa xăm. Nhưng có xa gì cho lắm khi cùng chung tỉnh lỵ thuộc miền Đông nước Việt Nam. Một tiềm thức xôn xao với bao tiếc nuối. Có lẽ nơi ông đang hồi tưởng quá khứ sâu đậm nhiều êm đềm ở tuổi nô đùa của thời nghe tiếng trống trường thúc dục vào lớp, nghe tiếng ve sầu để nhặt cánh phượng hồng nhẹ bay trong gió của mùa hè sắp chia tay. Nghe Thầy Cô tận tụy rao giảng bài học cho hành trang mai sau. Nghe nức nở trong tim của tiển biệt khó được ngày gặp lần hai.

Ôm ấp cả hương thơm tuổi ngọc, ông có một suy tư toan tính. Một toan tính hy sinh to tát trong cuộc sống nhiêu khê hôm nay của thời gian vô tình. Phải rồi! 50 năm trôi qua trên quãng đường dài cuộc đời. 50 năm gặm nhắm thiết tha cùng bao buồn vui bỡi bạn bè mất đó còn đây.

Hai năm trước, tình cờ mượn được quyển Đặc san phát hành vào dịp xuân của Hội Ái hữu Trường; Ông đã đọc ngấu nghiến say sưa với xúc động ngập tràn. Không biết bao lần nhìn hình ảnh từng gương mặt bạn bè thơ ngây ngày nào làm nỗi vui dâng đầy mi mắt. Cô tôi đây sao? Khác hẵn ngày xưa đứng trên bảng đen vẽ hình môn nhân thể học thật gọn gàng chính xác. Kìa là Thầy tôi.Những bài Toán khó lý giải dễ dàng nhưng cũng mê billard vô cùng. Ai đây ? Những thằng nghich ngợm nhất lớp bắt ểnh ương bỏ vào hộp, dấu trong gầm bàn giáo sư. Đến giữa giờ tiếng kêu ột ệt vang lên làm cả lớp cười ầm với sự ngạc nhiên của cô giáo.
Còn đây! thằng ưa bóng tròn, thằng thích bóng chuyền, thằng hay đá guốc, dép làm lộn xộn đám nữ sinh. Còn nữa! vừa là hoa khôi vừa là người đọc thơ Chinh Phụ Ngâm hay nhất lớp. Kia là người của thời thanh nữ vô địch điền kinh nhiều năm. Lại thêm, thêm nữa trong đôi mắt nhạt nhòa hằng đêm cho vô số kỷ niệm liên tục mặn mà.

Hình ảnh dù phai mờ màu sắc trên trang giấy nhưng không làm phai mờ gương mặt cá biệt một thời biết nhau trong tâm trí. Bây giờ với thiết tha ước muốn được gặp lại bạn củ năm xưa, gặp lại Thầy Cô quí mến dâng lên cao độ trong lòng. Rồi bình tâm tự hỏi: Mình sẽ làm gì để xoa dịu nỗi nhung nhớ vô vàn. Dâng tặng vật chất ư! Sự giàu sang mình không bằng ai. Tâm hồn chăng? Tâm hồn, tình cảm là sự cao cả , quí giá vô cùng tận. Nó phát xuất từ sự trong sáng về quan điểm nhân sinh tôn kính ân sư, phụ mẫu.

Có lẽ khi giáp mặt, ông nghẹn lời, âm vang cô đọng trong trạng thái sững sờ. Phải rồi không làm gì hết! Chĩ để cúi đầu chào người khai sáng trí tuệ như thuở bé; chĩ để nhìn sâu trong mắt người đối diện tìm chút gì của thời cùng ngồi gần nhau trên ghế trường, chĩ để rươm rướm nước mắt lòng quặn thương tưởng khi nghe tin người vừa nằm xuống.

Chắc chắn một điều là ông sẽ không nhắc thiệt thòi đã mất, mà kết nối những sự kiện có ở quá khứ để còn tồn tại trong lòng người mong ước thâm sâu. Hãy cùng kể cho nhau nghe những gì bạn còn nhớ. Hãy cùng nhau gọi tên những người mình đã quen. Hãy cùng ân cần mừng mừng, tủi tủi ngày hội ngộ. Một buổi gặp mặt tràn ngập niềm vui khao khát vô hình triền miên.

Thời gian lại trôi nhanh. Ngày quan trọng gần kề, tự lượng sức mình không đủ tài chánh để tham dự nơi xứ người, Ông chĩ có một thực hiện là dốc hết tiền dành dụm trong 2 năm để đóng góp yễm trợ cho công cuộc tổ chức. Ông mong mỏi có sự thành công. Một thành công tinh thần lẫn vật chất dù là tối thiểu. Hai trăm đôla ($200.00) với gia đình ông là khoản tiền rất lớn có thể chi phí cho con út theo đuổi học vấn trọn năm. Ông phải hy sinh trong niềm tin rực rở.

Hòa chung niềm vui ấy, sự mong ước tận đáy lòng, ông và nhiều người hy vọng nhận được tập san đặc biệt về ngày Đại Hội để nhìn rõ ràng hơn từng góc cạnh thân tình Thầy Cô, bạn hữu còn may mắn hiện diện hôm nay. Ông sẽ trân quí như bảo ngọc, như phần tinh thần vô giá. Ông cẫn trọng lật từng trang sách, đọc từng bài viết, nhìn từng bức hình với bao sung sướng tột cùng. Ông mơ lắm. Ông mơ sự hy sinh của hơn 2 năm trời làm việc cực nhọc để có số tiền như vậy và mong được Ban Tổ Chức sử dụng đúng ý nghĩa, đúng mục đích đã hô hào. Cũng như ông, những nhà hảo tâm đóng góp lần nầy mang trọn vẹn ý nghĩa tinh thần cao cả trong mục tiêu cao thượng đề cập.

Giấc mơ kỳ diệu. Giấc mơ thôi thúc từng giây từng phút người học trò già của mái trường nghèo mái đỏ năm xưa. Mái trường nhiều bạn bè thân thiết tóc đầy phong sương trắng xóa đang mang nặng những hoài niệm ưu tư. Mái trường đã đào tạo được nhiều nhân tài giàu sang hiển hách nhưng cũng không ít kẻ khổ đau gian nan thiếu may mắn trong cuộc sống biến động đa dạng. Mái trường có nhiều người nằm xuống lòng đất lạnh xót xa, vĩnh viễn không nghe được một lần mừng ngày thành lập Trường 50 năm.

Thiết tha dường nào với kỷ niệm mỗi khi hồi tưởng theo từng giọt lệ trên má nhăn nheo Ngước lên bầu trời trong xanh buổi sáng của giờ đi làm hằng ngày; Qua đôi kính già nua lúc mờ, lúc tỏ , Ông thầm khấn: Xin cho toại nguyện trước giờ nhắm mắt, trước giờ rời xa mọi người. Dù chĩ một lần thôi! Mong thay! Mong thay! Dù chĩ một lần thôi. Dù ..chĩ ..một ..lần ..thôi.

NguyễnPhướcHải
 
BÀ RỊA QUÊ HƯƠNG TÔI - Người An-Nhứt

Ca dao bình dân và những món ăn đặc sản...

      Đã có rất nhiều sách vở, tài liệu ghi chép về địa lý, nhân văn, lịch sử, di tích, phong tục, tập quán.v.v... của vùng đất Bà Rịa từ khi có người Việt đến đây lập nghiệp. Nhưng sách vở, tài liệu không ghi chép lại nền văn học dân gian như những câu ca dao , đồng dao... bình dân được người dân xứ Bà Rịa truyền khẩu từ đời trước đến đời sau, cũng như những món ăn đặc sản, thuần túy từng vùng biển, vùng đất liền...của người dân địa phương, thiết nghĩ, cũng là một điều thiếu xót. Thật tình, Người An Nhứt không dám ‘’múa rìu qua mắt thợ’’ nhưng cũng xin mạo muội viết ra theo trí nhớ. Sự ghi chép này chắc chắn không đầy đủ lắm, nhưng thiết tưởng, cũng đóng góp một phần làm phong phú thêm nền văn hóa, văn học của người dân Việt trên vùng đất ‘’rừng vàng, biển bạc’’ này.

      Nói về nền văn học dân gian, chúng ta phải nghĩ đến những câu ca dao , đồng dao, tục ngữ... truyền miệng từ đời này đến đời khác của những người dân quê ‘’ít chữ’’. Họ không được may mắn cắp sách đến trường vì nhiều lý do: chiến tranh, nghèo khó, địa phương không có ngân khoảng xây cất trường học...v...v...Tuy nhiên, thơ văn được những người dân ‘’ít chữ’’ sáng tác và truyền khẩu cũng có vần, có điệu, có luật lệ... Sau đây, Người An Nhứt xin nêu ra một vài thí dụ đã được ghi nhớ lại trong tâm trí của một thời khi còn niên thiếu: Vào những đêm trăng thanh, gió mát, hay những ngày lễ hội của vùng đồng xanh, cỏ tốt thuộc địa phương Long Điền, Đất Đỏ, thường có những cặp trai gái trong làng rủ nhau ra ngoài cánh đồng ruộng vắng vẻ, họ chia ra làm hai ‘’phe ‘’để hát hò đối nhau bằng những câu thơ thật ví von, thật bình dân mộc mạc, mang một sắc thái đặc biệt và thực tế:
     
     Trèo lên hòn núi Dinh Cô
     Ngó xuống An Nhứt thấy năm cô chưa chồng,
     Cô Xuân mặt đỏ hồng hồng,
     Hỏi thăm cô Hải muốn chồng hay chưa?
     Cô Chín đi chợ về trưa,
     Cô Năm hóng mát gió đưa đồng tiền.
     Cô Tám ăn nói có duyên,
     Chẳng tiếc đồng tiền, anh cưới hết năm cô!

      Qua những câu thơ lục bát trên, ai cũng nghĩ rằng anh chàng trai này ‘’tham lam’’ quá! Anh ta chẳng tiếc đồng tiền được làm ra bằng mồ hôi nước mắt của mình để cưới hết... năm cô gái..???... Hỏng biết anh chàng có ‘’chịu nỗi’’ không, hay là phải ngủ...một mình chèo queo ngoài... chuồng heo??? Nhưng có một đìều chắc chắn rằng năm ‘’giai nhân’’ của làng An Nhứt phải đẹp đến ...’’nghiêng ...thùng... đổ... nước’’ thì mới làm ‘’mê mệt’’ những chàng trai si tình trong làng thời bấy giờ! Đôi khi cũng có những anh chàng và những cô nàng sinh sống ở hai địa phương khác nhau, (Đất Đỏ, An Nhứt) hò hát, chọc ghẹo, ví dõm với nhau bằng những câu thơ tự sáng tác theo thể thơ lục bát , hoặc thơ tự do cũng có vần điệu:
     
     Mưa bên núi mưa qua,
     Mưa về Đất Đỏ mưa sa Cầu Dầu (Xã An-Nhứt)
     Phước Hải ăn cá bỏ đầu,
     An Nhứt lượm được xỏ xâu,
     Đem về nấu trả canh chua,
     Qua mời Đất Đỏ qua lua cái đầu !

      Hay những câu hát hò ví dõm với lời lẽ khá ‘’nặng nề’’ của những cô gái Long Điền để chọc ghẹo một cách...thương...hại những chàng trai Đất Đỏ... đã bị vợ...bỏ:

      Gái Long Điền má hồng, môi đỏ,
     Trai Đất Đỏ bị... vợ bỏ nên thương...!

      Sau đây là một trận ‘’khẩu chiến’’ bằng những câu thơ bình dân giữa những cặp trai gái hò đối đáp với nhau trong lúc họ đang cấy, hay cắt lúa ngoài đồng ruộng để quên đi sự mệt nhọc: Chàng không bao giờ muốn có những ‘’thằng con trai’’ ở làng khác đến ‘’cua gái’’ ở làng mình:
      Trâu ta ăn cỏ làng ta ,
      Đừng cho trâu lạ ăn qua làng mình!

      Nàng đáp lại bằng cách đỗ thừa cho duyên phận của mỗi người :
      Ruộng ai thì lấy đắp bờ,
      Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công.
     
      Chàng lại trách sự phụ phàng của người con gái:
      Trách ai thấy đó phụ đăng,
      Thấy lê quên lựu thấy trăng quên đèn.

      Rồi sau đó, chàng can đảm thố lộ với nàng những tâm tư tình cảm của mình đã bấy lâu tự giấu kín trong lòng kể từ khi gặp nàng trong một bối cảnh nào đó. Bây giờ chàng không muốn xa rời người con gái nữa.
      Chim xa cành còn thương cây nhớ cội
      Người xa người thì tội lắm người ơi!
      Chẳng thà không gặp thì thôi,
      Gặp rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn!

      Nàng và chàng hò đối đáp với nhau bằng một sự nuối tiếc và trách móc :
Chàng:
      Trèo lên cây gạo cao cao,
      Bước xuống hàng rào hái nụ tầm xuân.
      Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
      Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!
Nàng:
      Ba dồng một mớ trầu cay,
      Sao anh không hỏi những ngày còn không?
      Bây giờ em đã có chồng ,
      Như chim vào lồng như cá cắn câu.
      Cá cán câu biết đâu mà gở,
      Chim vào lồng biết thuở nào ra?

      Cảm thấy không được người đẹp chiếu cố, chàng bèn ‘’lợi dụng’’ lòng hiếu thảo của nàng đối với cha mẹ để mong làm thay đổi ý định :
     
      Chim đa đa đậu nhánh đa đa
      Mùng ba tháng bảy , mùng bảy tháng ba,
      Anh khuyên em nên lấy chồng gần ,
      Đừng lấy chồng xa,
      Mai sau cha yếu mẹ già,
      Bát cơm ai đở, chén trà ai dâng?

      Chàng cũng đem hai chữ ‘’trung hiếu’’ là bổn phận phải có của người con trai thời bấy giờ đối với các bậc vua chúa, các bậc cha mẹ để lấy lòng người yêu bằng những lời thơ thật giản dị, thật dễ thương :
     Ngó lên trời thấy cặp bồ câu đang đá,
     Ngó xuống biển thấy căp cá ngựa đang đua.
     Anh về lập miểu thờ vua,
     Lập trang thờ chúa, lập chùa thờ cha.

      Rồi một ngày nào đó, chàng trai phải rời quê hương, xa người yêu dấu, hành trang lên đường, đi tìm chút ‘’công danh’ nơi tỉnh thành, nàng ở lại quê nhà, khuê phòng khép kín, nhưng trong lòng luôn bâng khuâng, lo sợ chàng bị cám dỗ bởi cảnh phồn hoa đô hội. Vì thế, khi tiển người yêu lên đường, nàng cam kết rằng cho dù thời gian chàng đi lập công danh có kéo dài năm năm, hay mười năm, nàng vẫn một lòng chờ đợi ngày chàng đỗ đạt thành danh trở về làng cũ:
     
     Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ,
     Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.
     Vái Trời anh học đặng chữ nhu (nho),
     Chín thu em cũng đợi, mười thu em vẫn chờ.

      Ngoài những công viêc lao động vất vả ngoài cánh đồng, người phụ nữ ở thôn quê còn có bổn phận phải đảm đang công việc nấu nướng, kim chỉ vá may cho gia đình. Những công việc này được thể hiện qua những thể thơ lục bát như sau:
     Chim bay về núi tối rồi ,
     Chị em lo liệu quơ nồi nấu cơm,
     Nấu cơm còn phải nấu canh,
     Bỏ ba hột muối bỏ hành cho thơm.
Và...
     Đố bây con rít mấy chân,
     Tàu ô mấy ngựa, chợ Dinh mấy người ?
     Chợ Dinh bán áo con trai,
     Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim...

      Và chàng đã xác định với nàng rằng:
     Áo vá vai vợ ai ? Anh không biết,
     Áo vá quàng, chí quyết vợ của anh...

      Ngoài nền văn học dân gian, xứ Bà Rịa còn có nhiều món ăn rất thanh đạm có tính cách thuần túy, đặc sản của từng miền, từng vùng...
Sau đây, xin mời quí đọc giả cùng Người An Nhứt thưởng thức một vài món ăn...’’hàm thụ’’ ở vùng quê Long Điền, Đất Đỏ trên những trang giấy trắng này:
     
     Gió đưa gió đẩy, về rẩy ăn còng,
     Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.
Và ...
     ... Trái Long Phước, rượu Hoà Long,
     Hỏi còn chua, chát, ngọt, nồng, đắng ,cay?
     Long Điền ruộng lúa cò bay,
     Còn ai mưa nắng miệt mài trông nôm?
     Gạo nanh chồn, gạo nàng thơm,
     Còn làm quà tặng cho cơn đói lòng?
     Đất Đỏ thấp thoáng bóng hồng,
     Xa-cô-chê còn trái, dưa trồng ruộng cao?..
                (Ai Về Bà Rịa?)

      Hằng năm, vào những ngày Tết Nguyên Đán, người nông dân ở những xã thuộc quận Long Điền, Đất Đỏ thường biếu tặng quà Tết cho bà con thân thuộc đang sinh sống ở thành thị vài kí lô gạo nanh chồn, hay gạo nàng thơm . Những loại gạo này chỉ có được ở các xã thuộc quận Long Điền và Đất Đỏ. Đặc điểm của những loại gạo này là khi nấu thành cơm bay mùi thơm phức... khiến...cả làng... đều thấy...đói bụng!
      Giống lúa ‘’nanh chồn’’ và giống lúa ‘’nàng thơm’’ là hai đặc sản hiếm quí của người nông dân vùng Long Điền, Đất Đỏ. Hằng năm, mỗi vụ lúa mùa, người nông dân canh tác lúa nanh chồn hoặc lúa nàng thơm chỉ được vài sào ruộng mà thôi. Lúa xay thành gạo, người nông dân chỉ để ăn trong mấy ngày giổ, Tết, hoặc thường làm quà biếu tặng cho người thân. Sau biến cố 30 tháng 04, năm 1975, hai giống lúa hiếm quí này hầu như mất giống! Nhà cầm quyền cộng sản địa phương ‘’cấm canh tác’’, vì hai loại giống lúa này không đạt được năng xuất thu hoạch cao?.
      Những ngày Tết Nguyên Đán, ngư dân vùng Phước Hải, Phước Tỉnh không chèo ghe ra khơi đánh bắt cá biển vì:
      Tháng giêng là tháng ăn chơi,
      Tháng hai cờ bạc , tháng ba rượu chè...

      Do đó, các bà nội trợ thuộc cư dân vùng Long Điền, Đất Đỏ thường hay dự trữ đủ các loại cá khô, nhiều nhất là cá khô thiều hay cá khô úc... để làm những bửa ăn cho gia đình. Các bà thường nấu canh chua cá khô thiều hay cá khô úc với lá me non làm mồi cho các ông ...nhậu với rượu đế được nấu bằng gạo nếp!
      Vào mùa khô, các ông chồng siêng năng hơn, từ sáng sớm họ vác cuốc, mang giỏ , mang cây móc được sáng chế bằng loại sắt 5mm... ra những cánh đồng lúa đã thu hoạch xong, dùng cuốc và cây móc, đào móc bắt những con ếch mập béo đang trốn nắng dưới hang sâu. Họ cũng tìm đào những hang chuột ‘’dồn trú’’ có đến hằng chục con chuột đồng mập ú, lông vàng cháy, đang sống chen chút trong những hang sâu được đắp đất kín. Đôi khi họ cũng bắt được những chú rắn hổ mang nặng đến mười cân đang ‘’share phòng’’ với lũ chuột đồng dưới hang sâu... Đây là những món ăn đặc sản vào mùa nắng của người nông dân vùng thôn quê thuộc Long Điền và Đất Đỏ.

      Các ông còn rủ nhau đi đắp bờ, tát nước để bắt những con cá lóc, cá trê, cá rô, cá chạch, và lươn... dưới những con suối săp cạn vào mùa nắng. Các bà nội trợ ở nhà lo chuẩn bị sẳn sàng những đồ gia vị như: ngũ vị hương, cà ri, sã, ớt,... để chế biến những đặc sản trên thành những món ăn vừa ngon, vừa rẻ tiền, vừa bổ dưỡng.
      Các món ‘’ông ăn ngon, bà khen...hết xẩy’’ như: ếch xào lăn, lươn nấu lẩu với bắp chuối hột, rắn hổ hầm với nước cốt dừa khô, chuột xào cà ri sã ớt, hoặc bầm nhỏ trộn thêm đậu phộng hột ran vàng nghiền nát, vài ngọn rau râm tươi xắt nhỏ, ăn với bành tráng dày làm bằng bột gạo có rắc mè đen.... Những con cá rô, cá chạch... các bà kho tộ, hoặc nấu canh chua với lá vang, lá khế nhựt (lá dấm chua)...chuẩn bị cho một bửa cơm nóng hổi cho gia đình vừa thổi, vừa ăn...

      Thức ăn còn đang được xào nấu trên bếp, bay mùi thơm phức... cả xóm... đánh ... thức cái dạ dày đang... ‘’ngáy ngủ’’ của mấy đứa con nít, thèm ‘’rỏ nước miếng’’, đang kiên nhẫn cầm chén đứng chờ sẳn sau lưng mẹ! Các ông chồng đã sẳn sàng vài xị rượu đế mới ra lò, ngồi quây quần trên chiếc đệm cũ được trãi dưới bóng cây, miệng phì phà điếu thuốc rê, tán gẩu, chờ đợi mồi nhậu được mang ra từ nhà bếp.

      Mùa khô chấm dứt, những cơn mưa đầu mùa nặng hạt đỗ xuống vùng thôn quê, các ông lại phải xách nôm, mang giỏ, tay cầm đèn đốt bằng khí đá, dầm mình dưới mưa, đi soi bắt những cặp ếch đang mê mẩn ôm nhau, hoà tấu bảng nhạc ‘’tình yêu đầu mùa mưa’’. Các cô cậu ếch này, chẳng bao giờ quan tâm đến thân phận của mình, đang bị các ông thần ‘’Lưu Linh’’ bắt nhốt vào cái ‘’giỏ bát quái’’ đan bằng tre kín mích, và chờ ngày ‘’hoá kiếp’’! Các ông cũng lợi dụng những đêm mưa lớn, sáng chế một mảnh lưới đánh cá thành một cái chụp, để chụp bắt những ‘’chú chim mỏ nhác’’ mập tròn, đang dùng cái mỏ dài nhọn hoắc, hút sâu vào những đống đất mềm, tìm bắt những chú trùng hổ để ăn. Vì quá say mê công việc tìm mồi, các chú chim mỏ nhác không hề hay biết cái ‘’thiên la địa võng’’ của các ông ‘’thần men’’ nhanh như chớp từ trên trời giáng xuống chụp bắt chúng. Cho dù chúng có đôi cánh to lớn , khỏe mạnh, cũng không tìm được con đường để vỗ cánh bay cao!

      Cũng vào mùa mưa, các loại tôm, cua, cá nước mặn, được mang đến từ vùng Phước Hải, Phước Tỉnh bày bán đầy chợ ‘’chòm hỏm’’ của làng. Các bà xách rổ, xách giỏ đi chợ. Những con cá thiều mập béo đã trở thành những món ăn ngon, bổ dưỡng cho gia đình như: ‘’cá thiều nấu tương me’’ hay ‘’nấu súng’’ ăn với bún nóng vừa mới ‘’ra lò’’. Những con cá nhám chèo bẻo, dân địa phương còn cho một cái ‘’nick name’’ là ‘’ cá nhám cảnh sát dã chiến’’ vì da của nó có đốm trắng đen như màu áo của mấy ông cảnh sát dã chiến? Các bà nội trợ mua cá đem về ‘’hấp cách thủy’’. Khi cá chín, được rưới lên một lớp hành lá xắt nhỏ trộn với mở heo. Khi ăn, cá được cuốn với bánh tráng mỏng làm bằng bột gạo trắng, kèm thêm măng tre non luộc chín, các loại rau sống xanh tuơi... chấm với nước mắm nhỉ nguyên chất mua từ vùng biển xã Phước Hải. Điều đặc biệt là phải lấy lá gan của nó (cá nhám) nghiền nhuyễn trộn vào nước mắm để chấm ăn thì mới đúng ‘’gu’’.

      Thỉnh thoảng, các ông ‘’canh me’’ lúc mực nước thủy triều dâng cao, rủ nhau đạp xe đạp đến ‘’Cầu Ba Cô’’ trên đường đi Vũng Tàu, một vùng sông rạch ‘’nước chè hai’’ có nhiều cây bần, cây đước mọc thành rừng chồi phía tây nam thị xã Bà Rịa, để tìm bắt những ‘cô chú’’ ốc len, ốc mỡ,... đem về hầm nước cốt dừa tươi. Đây món ăn đăc sản của vùng ‘’nước chè hai’’. Khi mực nước thủy triều dâng lên, các cô chú ốc nầy ‘’thi đua’’ bò lên cây bần, cây đước để ‘’tị nạn ‘’! Các ông tha hồ bắt... đầy giỏ. Đôi khi, các ông cũng khám phá được những anh chàng ‘’cua cốm’’ to lớn, trốn trong hang sâu, chờ ngày lột võ. Món đặc sản ‘’cua ran muối’’ hay ‘’cua ran me’’ thì rất ‘’bắt mồi’’ mà quí bà thường làm món nhậu cho quí ông.

      Cũng vào mùa mưa, trên các đỉnh núi Dinh Cô (núi Long Hải), hay trên đỉnh núi Dinh (núi Bà Rịa), có một loại măng tre mọc lên, người dân địa phương thường gọi là măng tre ’’là-a’’. là một món ăn đặc sản chỉ có được ở vùng Bà Rîa mà thôi. Loại măng tre này lấy được từ những bụi cây le, là một loại tre, thân cây có kích thước bằng ngón tay cái của người lớn, cao khoảng ba hoặc bốn thước, trông giống như cây trúc, nhưng đặc ruột. Đặc tính của loại măng le này là khi luộc chín nó sẽ biến thành màu hồng xẩm, bay mùi rất thơm ngon, và có vị ngọt lơ lớ. Quí bà nội trợ thường lấy măng hầm với nước cốt dừa khô, trộn thêm nhiều tóp mở heo, ăn với mắm ruốc ’’Bà Giáo Thảo’’ được sản xuất tại thị xã Vũng Tàu. Thế là, gia đình có một bửa cơm... rất thanh đạm, ngon lành, ăn hoài... không biết... ngán!

      Còn một món đặc sản khác nữa, vừa thanh đạm, vừa thuần túy ở vùng Long Điền, Đất Đỏ, nếu không được đề cập đến cũng là một điều thiếu xót! Đó là món ‘’mắm bầm’’ được chế biến bằng đu đủ sống và mắm. Người dân địa phương không thể thiếu món ăn đặc sản này trong những ngày giổ, Tết, lễ hội, đám tang, đám tiệc... Mắm được làm bằng các loại cá cơm, cá thu, hay cá rựa... xay hoặc bầm nhuyển, trộn với muối. Mắm được chứa trong một cái hủ hay cái tô lớn bằng đất sét nung, mắm cũng được phủ lên trên mặt một lớp ‘’thính’’ làm bằng gạo ran vàng và nghiền nát, và phải được đem phơi nhiều ngày nắng mới ăn được.
      Các bà nội trợ hái trái đu đủ xanh , hoặc đu đủ mới vừa chướm chín, gọt vỏ, rửa sạch, rồi dùng dao bầm thành miếng lớn nhỏ, đủ cở dầy, mỏng, dài, ngắn, trộn với ớt hiểm, tỏi sống, và mắm. Quí ông nhậu lai rai "mắm bầm" với rượu đế được nấu bằng nếp. Quí bà cùng với các con ăn mắm với "khoai mì" luộc, một loại khoai mì đăc biệt được trồng và được thu hoạch khoảng thời gian chỉ có ba tháng. Loại giống khoai mì đặc biệt này chỉ trồng được ở những vùng thuộc quận Đất Đỏ mà thôi.

      Sau cùng, Người An Nhứt xin mời quí đọc giả thưởng thức món "bánh hỏi chả giò", một sản phẩm nỗi tiếng của cư dân xã An Nhứt nói riêng, cũng là một trong các món ăn đặc sản của người dân địa phương thuộc tỉnh Bà Rịa nói chung.
      Vào những buổi chiều, nhất là những ngày cuối tuần, hoặc những ngày lễ, khi nắng chiều nóng bức của mùa hè vừa vụt tắt, hoàng hôn phủ xuống với một bầu không khí, vừa mát mẻ, vừa trong lành nơi miền thôn dã, những người khách thập phương thường rủ rê, hò hẹn đến các lò "bánh hỏi chả giò" để thưởng thức hoặc để "to go" làm quà biếu tặng cho người thân hay bạn bè ở phương xa món ăn đặc sản "bánh hỏi chả giò". Những rê bánh hỏi nóng hổi thơm ngon vừa mới ra lò, những cuốn chả giò được gói bằng những con tôm tươi, củ sắn dây, ca-rốt xắt nhỏ, chiên bằng dầu phọng vàng cháy, một dĩa rau sống xanh tươi, một chén nước mắm ngon đặc biệt, là một đặc sản có một không hai của cư dân địa phương xã An Nhứt. Thiết nghĩ, một du khách có một "tâm hồn ăn uống cao lương" thì không thể bỏ qua món đặc sản "bánh hỏi chả giò" khi được đặt chân đến vùng đất này.

      Trên đây chỉ là một vài món ăn tinh thần (ca dao, đồng dao...) và vật chất (cua, cá, ốc...) của cư dân xứ Bà Rịa mà Người An Nhứt nhớ và ghi chép lại, chắc chắn sự ghi chép này không đầy đủ và còn có nhiều điều thiếu xót, xin quí vị tiền bối, quí chư huynh đệ, quí hiền tỷ muội... cao kiến bổ xung thêm. Xin đa tạ. Tuy nhiên, khi đọc qua bài viết này, Người An Nhứt thiết nghĩ, quí vị đọc giả "mua vui cũng được một vài trống canh".
Người An-Nhứt