HỒI KÝ / BÚT KÝ
 

TRÔNG VỀ QUÊ MẸ - Nguyễn Phước Tuy

Chuyến bay JAL đến Tân Sơn Nhất vào nửa đêm, khiến mình không nhìn rõ được quang cảnh Sàigòn để so sánh Sàigòn của ba mươi năm trước, khi rời quê hương thân yêu trên chuyến bay TWA định mệnh. Chuyến bay đưa mình xa rời đất mẹ, xa cách những người thân yêu, mang theo những kỷ niệm dạt dào thương nhớ mãi. Giờ đây, ôi không gian xa diệu vợi, thời gian dài ngút ngàn, và lòng người đổi thay dù không muốn thay đổi. Không gian xa xôi cả nửa quả địa cầu không làm mình vô vọng, mà chính thời gian đằng đẳng cách xa làm mình đổi khác nhiều. Thay đổi từ lối sống, từ quan niệm, đến những tình cảm dạt dào ngày nào dù vẫn còn ôm ấp mãi. Mình sợ không thích ứng được với hoàn cảnh và khó hội nhập vào cuộc sống mà mình đã quá xa từ khi còn trẻ. Trên đầu nay đã hai thứ tóc, ý nghĩ về quê sống đã nhen nhúm và lớn mạnh trong tâm tư. Mình dự tính một ngày nào khi con khôn lớn, hoàn cảnh đổi thay, mình sẽ về Bà Rịa, sống khép kín trong một căn nhà nhỏ nơi miền quê, tìm lại sự an bình trong tâm hồn, để tận hưởng những tình cảm đậm đà quê hương mà mình đã mất trong những năm lưu lạc xứ người. Mình phải chuẩn bị và sẳn sàng sống như mọi người nơi quê nhà chứ.

Nhưng trở lại quê xưa, đối diện với một thực tại mà từ bao năm nay mình vẫn âu lo nghĩ ngợi: hai lối sống dị biệt, hai tư tưởng xa vời, mình có dung hòa được không? Đã có lần mình chia xẻ nổi âu lo cùng cô bạn cũ về ý nghĩ này khi đọc một tác phẩm của văn hào Pearl Buck về sự xung đột tình cảm, phong tục, văn hóa không lối thoát giữa cô con gái và bà mẹ Trung Hoa, khi cô trở về cố quốc sau 30 năm xa xứ. Mình nhớ mãi đêm Giáng Sinh đầu tiên trên đất Mỹ, đến nhà host family, khi được nghe lời ca trong nhạc phẩm Năm Hai Ngàn Năm:

... tôi trở về vùng đất thân yêu
tôi gặp người tình cũ bên đường,
nay đã già bạc mái tóc sương ...

Mình đã suy nghỉ thật nhiều và ước mong sẽ không rơi vào số phận mình. Lúc ấy, cứ ngỡ sau khi học xong, mình sẽ về quê hương phục vụ, sống kề cận những người thân quen, dù đạm bạc nhưng chứa chan tình dân tộc. Không ngờ vận nước điêu linh, thân phận lạc loài, sống đời viễn xứ cho đến ngày hôm nay, mình về thăm quê cũ đúng vào năm 2000, sau ba mươi năm lưu lạc. Về đây những tình cãm lẫn lộn, những ý nghĩ xáo trộn làm mình mất định hướng, không tìm được giải pháp và cảm thấy mất tự tin như đứa trẻ cần dìu dắt.

Trở lại trường xưa trong ngỡ ngàng xa lạ, đổi khác quá nhiều, tên cũ đã thay. Con đường ngày nào in dấu tuổi thơ tung tăng đến lớp, giờ cũng đã đổi họ thay tên. Hàng thùy dương cạnh lớp với tiếng ve sầu trong nắng hạ ngày nào, đã được thay bằng những phòng lớp mới mẻ. Hàng phượng vĩ trước sân trường nay đã già với tuổi đời chồng chất, nhưng chắc vẫn còn rực nắng trong mỗi độ hè. Thầy cô năm trước, giờ đã lưu lạc muôn phương, tìm về thăm chỉ gặp người không quen ra đón tiếp. Tìm về căn nhà cũ dấu yêu, mình nghẹn ngào xúc động hồi lâu. Giàn dạ lý, cụm hãi đường, hàng huệ trắng, cây trứng cá bên căn nhà đầu ngõ của ai kia, nay không còn nữa. Bồi hồi xúc động, đôi dòng lệ tuôn tràn khi nhớ đến người năm cũ của một thuở trông vời áo tiểu thơ. Bất giác mình thì thầm câu Đường Thi năm cũ của Thôi Hộ:
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Người ấy đã ra đi, chỉ còn dấu tích xưa để lại:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Mình vẫn không quên và nhớ mãi mái tóc chấm vai trong tà áo dài tha thướt, với nụ cười hồn nhiên như nắng sớm của một thời đắm đuối thương yêu. Sau này về Sàgòn gặp lại chỉ biết:
Nhìn nhau cay đắng nghẹn lời
Cảm ơn ai đã một thời yêu ta ...
Mối tình đầu tuyệt đẹp nào cũng đi đến một kết thúc không trọn vẹn !!!

Về với thực tại, mình chạy khằp mọi nẽo đường Barịa để tìm lại hình bóng cũ dấu tích xưa. Tất cả đã đổi thay. Chợ cũ nay được thay bằng một công viên mới mẻ. Chiếc cầu sắt Long Hương nay có thêm một cây cầu bên cạnh. Dừng lại sông Dinh, nhìn dòng nước lững lờ trôi, gợi lại bao kỷ niệm ấu thơ. Nơi đó khi xưa, mình cùng chúng bạn bì bỏm, bơi đùa trong những trưa hè oi bức. Tình bạn bừng dậy sau bao năm xa cách.

May mắn, qua người bạn thân cũ, mình gặp lại những bạn cùng lớp ngày xưa, giờ đã thành ông thành bà, con đàn cháu đống. Dù xa cách đã lâu, nhưng tình bè bạn vẫn thắm thiết, gặp nhau tay bắt nmặt mừng, cười nói huyên thuyên như chưa bao giờ được đùa nghịch. Kể cho nhau nghe những kỷ niêm cũ, những mẫu chuyện xưa để sống lại thời non dại. Nhắc nhau nghe:
Mối tình Plastic
Theo Bước Ngọ Về
Những Cuộc Tranh Tài Thư Hùng
Những Lần Hẹn Hò Đỗ Vỡ
Những Đêm Xoay Cơ Để Khỏi Học Thi
Những Lần Trốn Học
Lúc Bị “Cồng Xin” …
Bồn nước năm xưa vẫn cao vời vợi và đứng vững mãi với thời gian, cũng như tháp chuông giáo đường mà nơi đó,
Giáng Sinh năm nao, mình đã cùng em đi lễ đêm, để xin Chúa cho con lấy được người con thương, dù chúng mình là người ngoại đạo. Tìm về làng quê, những đồng lúa vàng, cụm tre xanh, nơi hò hẹn tuổi thơ vào những trưa hè oi ả, dựa vai em gầy thả hồn vào mộng mơ để nghe em tỉ tê lời “gọi nắng”, giờ mất cả chứng tích dấu yêu, đổi khác quá nhiều. không còn nên thơ như những ngày non dại. Sông Hàng, Xóm Cát không còn nên thơ như những ngày xưa ấy. Cầu Rạch Hào, nơi kỷ niệm dấu yêu trong những đêm trăng vời vợi, giờ đây không còn nữa. Tất cả chỉ là dỉ vãng, nhưng sao mình vẫn nhớ và mãi cưu mang. Người già sống bằng kỷ niệm, mình đã qua thời xuân sắc, nên thích ôn lại chuyện xưa.

Về lại Houston, cơn jet lag làm mình ngủ vùi hai ngày mà vẫn chưa hồi phục. Chuyến du hành vạn dặm thăm lại quê cha, mồ mã ông bà thật hoàn hảo và đầy ý nghĩa. Nhưng những đổi thay, những khác biệt đã làm mình nghĩ ngợi mông lung và cố tìm một định hướng cho đời mình trong những ngày sắp đến. Tình quê hương vẫn dạt dào muôn thuở, nhưng sao mình vẫn bị lạc lõng bởi những lề thói những tập tục quê nhà. Mình cố gắng thích ứng với hoàn cảnh, nhưng vẫn còn ngượng nghịu như trẻ em tập đứng tập đi. Những âu lo, sợ sệt đã thành sự thật. Bà con dù già đi, nhưng mối liên hệ vẫn đậm đà như ngày xưa cũ. Bè bạn năm xưa, dù thời gian và tuổi đời chồng chất vẫn vui nhộn như thuở nào và người năm cũ vẫn yểu điệu thục nữ, yêu kiều duyên dáng như thuở còn mộng mơ, dù giờ đây không cùng chung một lối.

Mình vẫn yêu quê hương, vẫn đầy ấp những tình cảm dạt dào quê mẹ. Yêu non nước mãi như yêu mối tình đầu, dù sống xa vạn dặm, nhưng vẫn là người Việt tha hương. Dòng máu Tiên Rồng vẫn sục sôi trong huyết quản. Vì sinh kế, vì hoàn cảnh mình phải cách ly, nhưng lòng luôn hướng về đất mẹ. Mẹ Việt Nam ơi, con vẫn luôn mong có ngày trở về quê hương, sống trên đất mẹ, để được hít mùi thơm của lúa mới Hoà Long, để được nghe tiếng sông Dinh rì rào trong những chiều Thu êm ã, để được nếm vị ngọt của vú sửa Long Điền, để làn da được sạm nắng bởi hơi muối mặn của vùng biển Thái, và để nghe tiếng mẹ hiền ru con ngủ trong những làng quê hẻo lánh mà ba mươi năm qua con thiếu vắng quá nhiều.
Con sẽ về trong một ngày không xa lắm.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Quê hương mình đẹp lắm bạn ơi!!!

Houston, Tháng Giêng 2001

Nguyễn Phước Tuy
 

NHỚ TẾT PHƯỚC TUY XƯA ..... - Đoàn Minh Hùng

Ngày tháng thoi đưa, qua rằm tháng chạp, đến 23 (âl) đưa Ông Táo về trời, từng tờ lịch bóc dỡ trong nỗi lo toan của người lớn và sự háo hức đợi chờ của trẻ con làm tôi mãi miên man nhớ về thời xưa cũ của tỉnh Phước Tuy khi xuân về, tết đến.
Phước Tuy! Sao nghe thân thương quá! Đã trên 40 năm cũng như tên gọi TH Châu Văn Tiếp đã cùng ra đi không biết bao giờ sẽ trở lại! Trong mỗi ngõ ngách của trái tim những người U 50 trở lên có còn đọng lại chút vương vấn nào chăng ? Ắt hẳn sẽ có rất nhiều, rất nhiều. Hy vọng niềm lạc quan này là đúng.

Quay ngược thời gian trở về với tuổi thơ khi mà hiện tại chúng ta đang tất bật với nền kinh tế khó khăn chung, Đa số mỗi gia đình đều chiến đấu lã mồ hôi từng ngày để trả nợ "áo cơm" cho đến cận kề thời khắc giao thừa . Phần lớn trẻ con ngày nay cũng bị ảnh hưởng nỗi khổ khó rất nhiều vào công cuộc mưu sinh của người lớn, chúng nó không "sung sướng" như thời xưa nữa. Mặc dù trẻ con ngày nay sinh ra và lớn lên được bao quanh bởi những phương tiện hiện đại nhưng những bữa cơm chiều không còn mang ý nghĩa đậm đà, ấm cúng đầy tình thương gắn bó. Bữa cơm chiều rất quan trọng trong mỗi gia đình giữa không khí sum họp hầu như không toàn vẹn. Chồng bận tăng ca, vợ lua vội bát cơm để kịp giờ tiếp tục làm việc thuê mướn. Các con mỗi đứa bới 1 tô cơm dựa vào góc nhà vừa ăn ngón tay vừa quẹt quẹt vào điện thoại cảm ứng chơi game hoặc có đứa quên ăn ngồi trước màn hình computer để lên facebook v.v....(đây chỉ là 1 trong những hằng vạn điển hình). Ngày tết cũng chưa chắc quy tụ được đầy đủ dùng bữa cuối năm lẫn đầu năm.

Ngày xưa, kể từ ngày 23 (âl) hầu hết công việc đồng áng đã gát hẳn cày cuốc, những công việc khác cũng đã tạm ngưng chỉ còn lại những gian hàng thương mãi phục vụ tết. Nhà nhà rất rảnh thời gian, nhất là các bà nội trợ ai cũng muốn phô diễn tài nghệ của mình, nào là làm mức gừng, mức dừa, dưa giá, gói bánh v.v....Bấy nhiêu cũng đủ thể hiện xã hội thời ấy thật sung túc, thảnh thơi, hạnh phúc mặc dù lúc đó tỉnh Phước Tuy luôn trầm mặc trong chiến tranh.
Thời khắc giao thoa năm cũ, năm mới dần đến theo nhịp gõ kim đồng hồ. Mọi nhà đều mở radio đón nhận giờ giao thừa. Ôi! đêm trừ tịch của những năm xưa sao mà thiêng liêng quá. Ông bà tôi thường ngày rất khe khắc với cháu con để giữ truyền thống gia giáo cổ truyền sao hôm nay lại dễ dãi không rầy la đứa nào cả mà chỉ nhắc nhở là đừng chạy giỡn đụng vào bàn thờ gia tiên kẻo lăn rớt mấy trái dưa hấu to đùng và dặn dò trẻ con chúng tôi phải ăn nói nhỏ nhẹ, cử chỉ phải lễ phép với người lớn, nhất là không được cãi cọ, khóc lóc (điều đó rất cấm kỵ ). Đúng 0 giờ Ông tôi mặc áo dài, khăn đóng, cử chỉ thật nghiêm trang và thành kính nguyện cầu, đốt nhang khắp các bàn thờ, vẻ mặt mang nhiều niềm hy vọng. Pháo bắt đầu nổ vang từ làng trên cho đến xóm dưới. Thỉnh thoảng nghe những tiếng "ầm ầm" của pháo đại. Tuy tiếng pháo rền trời nhưng mỗi người đều lắng tai nghe từ xa cho đến khu vực gần có hòa lẫn với tiếng súng hay không! Khủng hoảng của năm Mậu Thân vẫn còn ấn tượng thảm sầu.....! Ai nấy kiên nhẫn chờ cho mau sáng để xuất hành theo hướng Nam, Bắc, Đông hoặc Tây ứng với tuổi tác mà lịch Tam Tông Miếu chỉ dẫn (vì lý do an ninh nên không ai dám đi đêm).

Sáng mồng 1 trong khi người lớn ăn mặc nghiêm trang cổ truyền để đón khách đến chúc tụng. Bọn trẻ chúng tôi sau khi được ăn uống no đủ (tranh thủ cúng sớm), đứa thì mặc áo đỏ, đứa mặc quần xanh v.v....quần áo, giầy dép mới toanh quanh quẩn bên chân Ông Bà, Cha Mẹ, Chú, Dì...mừng tuổi để mong được những phong bao lì xì. Ngoài chợ Đất Đỏ tiếng trống lân rộn ràng, xác pháo được những cơn gió lùa bay lả tả thật vui mắt. Những bàn xí ngầu, những sòng "bầu cua cá cọp", những nhóm bài cào, xì dzách hoạt động rôm rả..xen lẫn tiếng quảng cáo ồn ào của những người làm xiếc, ảo thuật bán thuốc Sơn Đông v.v....(Nhà ảo thuật đại tài Lê Văn Quý thân phụ của nghệ sỹ Mạc Can cũng có trình diễn nơi đây)

Thông thường thời đó từ mùng 1 đến mùng 3 thì đám con nít đi chơi nhiều hơn cả. Từ mùng 4 trở đi là thời gian của người lớn du ngoạn, du hí. Vui biết bao khi nhìn toàn cảnh cái gì cũng mới cả, nam thanh nữ tú dập dìu, đi đâu cũng nghe những lời tốt đẹp trao nhau, những bàn nhậu chén chị chén anh đưa qua, đưa lại ly rượu mừng, những bữa tiệc thịnh soạn với bia chai "con cọp", bia 33. Những đoàn Đại nhạc hội, Đoàn Cải lương Kim chung 5, Đoàn Hương mùa thu, Đoàn Dạ lý hương v.v...cho xe 4 bánh rãi tờ rơi và phát loa quảng cáo inh ỏi tạo nên âm thanh nô nức trong lòng mọi người

Kể từ 1972 đến 1975 vào mùng 2 năm nào tôi cũng "dzọt" lên Bà Rịa ăn tết cùng chúng bạn học của trường Tiểu học Phước Lễ, trường TH Châu Văn Tiếp vì nơi đây bạn bè của tôi nhiều hơn chứ không vì ở Bà Rịa ăn tết "giàu" hơn. Đến mùng 6 tôi lại trở về Đất Đỏ cùng gia đình và cũng để dắt 1 số người thân lẫn bạn bè trong xóm lên rạp hát Thành Thái xem phim vì ở Đất Đỏ đa số người dân làm ruộng rẫy, họ chưa từng có dịp làm khán giả của nghệ thuật thứ 7. Nếu nhớ không lầm. vào mùng 8 tết của 1975 tôi đã dắt họ xem bộ phim "Thiết sa chưởng" của Hồng Kông do hãng Gia Hòa sản xuất, khi xem xong họ rất thích thú. Mãi đến bây giờ họ vẫn còn nhắc tới kỷ niệm đó.

Ngày mùng 3 cúng tất, riêng tại tỉnh Phước Tuy đa số cúng tất vào mùng 4. Ôi chao! ngày đó trở đi những thức ăn còn lại đều đổ dồn vào 1 cái nồi to, gọi là nồi "xà bần" ăn vào sao nghe rất ngon, kèm theo cơm chiên rất tuyệt. Tục lệ dựng Nêu hoặc hạ Nêu ngày nay ít còn phổ biến. Ngày ấy tôi còn nhớ, những gia đình tuy nghèo nhưng tết nào họ cũng có riêng 1 nồi thịt kho tàu, trong đó có nước dừa, thịt ba rọi, hột vịt nguyên trứng, đặc biệt có cả tôm càng to gần bằng cườm tay. Ngày nay đến những gia đình thật giàu cũng chưa chắc lo được nồi thịt kho tàu có tôm càng ấy. Nồi thịt kho cùng măng tre rừng khô để cuốn bánh tráng với dưa giá ắt hẳn không gia đình nào thiếu vì đây là đặc sản của Phước Tuy. Dưa hấu ngày xưa ăn rất ngon, ngọt vì không bị lạm dụng chất kích thích tăng trưởng độc hại, hoặc sử dụng quá nhiều vào phân hóa học như bây giờ, hồi đó người ta bón bằng phân chuồng, phân cá, thậm chí để lâu đến rằm tháng giêng bổ ra mà trong ruột vẫn không bị hư, rất chất lượng. Loài hoa mai, hoa vạn thọ để chưng tết cũng lâu héo tàn như ngày nay. Vùng thôn quê như làng Đất Đỏ người ta thường trồng vài cây mai để dành chưng tết hoặc tự trồng 1, 2 đám vạn thọ khỏi phải mua. Ở phố chơ Bà Rịa, Long Điền không có đất trồng bắt buộc cư dân nơi đây phải chịu bỏ tiền ra tậu những cành mai hoặc những cây vạn thọ ưng ý mình nhất đem về trang hoàng nhà cửa, bàn thờ.

Mỗi dịp tết sang, Vũng Tàu (khi xưa gọi là Cấp) là nơi tụ hội rất đông du khách đến từ những địa phương khác như Saigon, Biên Hòa v.v...tất nhiên cũng có rất đông người dân tỉnh Phước Tuy cùng vui chơi nơi các quán Bar, tắm biển, ngắm phong cảnh. Bãi tắm của Bãi Trước lúc đầu rất được ưa chuộng vì nó còn sạch, đẹp, thơ mộng vì ngoài khơi có tàu lớn neo đậu, trên bờ có các quán Bar hình bát giác, lục giác nằm dưới rặng cây dương trải dài theo bờ biển rì rào trong gió, bên trái phải đều có những thắng cảnh như : Dinh Ông Thượng, chùa Phật nằm 49m, bãi Dâu, bãi Dứa v.v...Có chợ Vũng Tàu buôn bán sầm uất, tiệm ăn Văn Phụng nổi tiếng, rạp hát Ngọc Quế v.v....Đặc sản có thịt Vít, trứng Vít (ba ba), cá chét, cá dứa, cá bông lau, cá ngát, cá thiều trắng, cá thiều xanh, cua, ghẹ, tôm và các loại nghêu, sò, ốc đủ thứ kể ra không hết.Giá cả thuận bán vừa mua rất hài hòa chứ không nói thách quá đáng hoặc "chặt chém" không thương tiếc như ngày nay. Sau này người ta mở rộng, khuếch trương thêm Bãi Sau làm khu nghỉ dưỡng, có bãi tắm rất rộng, sạch sẽ. Bãi Trước hiện giờ ít ai xuống tắm biển vì bị ô nhiễm quá nặng. Long Hải cũng là nơi du lịch đặc sắc nhưng ít khách đến hơn, riêng các mặt hàng hải sản cũng phong phú không thua kém Vũng Tàu, giá cả có vẻ "mềm" hơn.

Trải qua bao biến cố lịch sử thăng trầm, địa danh Đất Đỏ, Long Điền, Bà Rịa, Long Phước, Hòa Long v.v...vẫn còn đó nhưng 3 tiếng Tỉnh Phước Tuy thân thương đã hoàn toàn biến mất. Tuy vậy trong trái tim tôi mãi hoài niệm về những ngày vui tết thời thơ ấu xa xưa và Phước Tuy "muôn năm cũ" vẫn luôn luôn còn lắng đọng trong từng mạch sống, từng hơi thở của tôi.

Thay mặt các anh chị em Hội ái hữu TH Châu Văn Tiếp vùng Saigon, tôi xin kính chúc các Thầy, Cô, các cựu h/s TH Châu Văn Tiếp cùng gia đình năm mới Bính Thân luôn an khang, thịnh vượng và nhiều phúc lộc
Trọng kính

Đoàn Minh Hùng (Cựu h/s THCVT)
 
BOSTON NIỀM NHỚ KHÔNG TÊN - Chiêu Anh
   Bấm nút "Enable Fullscreen" trên đây để qua màn ảnh lớn.

 
TƯỞNG NHỚ CHA - Tina Đỗ

“Đến nay thu tàn, phương xa lìa chiếc én bay về
Khuất trong non ngàn, riêng ta nhìn đâu thấy bóng quê”

Văng vẳng bài hát Nhớ quê Hương của Phạm Ngữ từ đâu vọng lại, lòng tôi vô cùng thương tiếc nhớ đến Bố tôi.

Bố tôi rời xa đất Bắc ở lứa tuổi 30. Với một mẹ già, vợ cùng 2 đứa con thơ và một con sơ sinh vừa chào đời trên đường di cư, Bố tôi bỏ lại đất Bắc một trời kỷ niêm của tuổi thanh niên, nơi Ông trải qua thời niên thiếu êm đềm trong ngôi làng nhỏ, dưới bóng ngôi giáo đường sau luỹ tre xanh. Hình ảnh ấy còn trong ký ức cho đến ngày Ông lìa đời.

Khi định cư tại miền Nam, vì bận rộn gia đình và sinh kế, Ông không còn thì giờ nghĩ đến quê xưa nhiều như lúc mới di cư. Những năm thanh bình 1958-1960, trong những đêm trăng sáng, khi ai đó thả diều tiếng sáo diều vi vu trong gió, Ông bắc ghế ngồi trước hiên nhà, hát baì Làng Tôi của Trung Quân. Ông yêu thích âm nhạc, từng là trưởng ban kèn đồng, tổ chức ban kèn, ban trống trong giáo xứ. Ông xử dụng được các loại nhạc khí do tự tìm tòi học hỏi; âm nhạc là phương tiện giải trí, giúp Ông giải tỏa những áp lực trong đời sống. Ông tự mình xây nhà ở cho gia đình; xoay trở đủ mọi nghề để nuôi nấng con cái, cho chúng tôi được cắp sách đến trường. Không chỉ xong bậc Trung học, Ông còn kỳ vọng nhiều hơn bằng cách gửi chúng tôi lên Sài Gòn, vào Đại học. Ông còn dự tính xa hơn bằng cách mua nhà tại Saì Gòn với ý định sau này từng đứa con sẽ có chỗ cư ngụ khi lên SaìGòn học. May mắn là chúng tôi đã không làm cho Ông thất vọng. Khi đất nước chiến tranh, Ông đã cố gắng mọi cách để cho gia đình được toàn vẹn. Trong khi cầu nguyện cho sự an toàn của người con trưởng đã ở trong quân ngũ; Ông tìm cách cho em trai tôi được đi du học; nhưng khi nghe đến phí tổn, em đã từ chối vì sợ tốn kém cho gia đình.

Rồi thời cuộc đổi thay, khi phải quyết định, Ông đã dứt khoát bỏ lại nhà cửa cơ nghiệp, công lao gầy dựng một đời để cả gia đình cùng di tản năm 1975. Những năm đầu tiên trên tiểu bang miền Bắc nước Mỹ, đời sống thật vất vả vì khí hậu và ngôn ngữ. Tất cả cùng tạm quây quần dưới mái nhà của người con trưởng như lòng mong muốn của Ông cho đến khi Ông gầy dựng gia đình cho từng đứa. Trừ Mẹ tôi ở nhà giữ cháu nhỏ, cả gia đình cùng đi làm hoặc đi học. Cuôí tuần, tất cả cùng đi chợ ở gần nhà rồi mỗi người ôm một hay hai túi đi bộ về nhà vì chưa có xe! Tuy cuộc sống mới đầy khó khăn của những năm 75-76, Bố tôi muốn gửi quần aó về cho con những người bạn của Ông nay đã bị đi học tập; thế là chúng tôi ra Goodwill mua quần aó cũ từ 25 cents đến 75 cents; đóng thùng gửi đường thủy về Việt Nam. Maĩ sau này, khi thư từ liên lạc được, chúng tôi mới biết thùng qùa có đến tay người nhận.

Bố tôi yêu thích sự làm việc. Khi đã nghỉ hưu Ông giúp các con nuôi dưỡng các cháu; đến trông coi nhà cửa cho các con khi chúng đi vắng. Tôi nhớ khi Ông ở với gia đình tôi, các cháu muốn nuôi thỏ, Ông liền đi mua cây về đóng chuồng thỏ cho cháu. Khi cư ngụ với gia đình em gái tôi, thú vui của Ông là nuôi chim hoàng yến. Ông đóng một cái chuồng lớn nuôi khoảng 20 con, những ngày nắng ấm, Ông lấy nước cho chúng tắm và ngồi nhìn bầy chim vàng nhảy nhót líu lo; có lúc ngồi im lắng nghe tiếng chim vút cao giọng hót, tiếng rung ngân dài tưởng không bao giờ dứt. Có lần một con chim két của ai bị sổng chuồng, bay đến đậu ngay sân nhà, Ông đã săn sóc và còn đi mua thêm một con két nữa để nó có bạn; rồi chỉ dẫn cháu gái cách chăm sóc, tránh những con mèo hàng xóm. Những quần aó mặc ở nhà, Ông tự may lấy và rất hãnh diện vì những việc trong ngoài Ông đều làm được; thú vui của Ông là trồng trọt, tháp cây, và dĩ nhiên là âm nhạc. Ông có cây đàn banjo và đàn violin làm thú tiêu khiển.

Năm 2006, Ông về thăm quê hương, tưởng sẽ được nhìn lại ngôi nhà xưa, cầu ao cũ, giáo đường thân yêu; nhưng than ôi người xưa đã mất mà cảnh cũ cũng không còn. Những lụt lội ở miền Bắc trong thời chiến tranh đã san bằng nhà cửa; chỉ còn ngôi nhà thờ đứng chơ vơ nhưng cũng bị suy sụp. Tuy thất vọng, khi trở về Hoa Kỳ, Ông thúc dục các con làm DVD với những hình ảnh ghi lại sau chuyến đi, Ông cũng viết một bức tâm thư gưỉ kèm với DVD đến bà con đồng hương làng Đông Lâm ở hải ngoại, kêu gọi kẻ ít người nhiều cùng nhau chung góp tu sửa lại ngôi giáo đường làng Đông Lâm mà nay được xếp vào những ngôi giáo đường cổ ở miền Bắc. Công việc vừa hoàn tất thì sức khỏe của Bố tôi cũng suy giảm. Để giữ cho tinh thần của Bố tôi được minh mẫn, tránh bệnh lú lẫn của tuổi gìa, các em tôi đã sắm cho Bố tôi một máy computer để Ông đọc báo, nghe nhạc Việt Nam và đánh máy thư từ bằng tiếng Việt. nhưng chẳng được bao lâu thì tin dữ đến với gia đình!

Khi biết mình bị bệnh nặng, Bố tôi đã liên lạc với những người thân, cùng nhau ôn lại và viết xong gia phả 5 đời hai bên Nội Ngoại để lại cho con cháu. Ngoaì ra, Ông còn viết hồi ký làng Đông Lâm – nơi Ông chào đời, ngôi làng thân yêu mà Ông vẫn còn giữ mãi trong tâm khảm. Ông thuật lại những thăng trầm trong đời sống của Ông và của cả dân làng từ những ngày chiến tranh Việt Pháp, những lo lắng khi làng bị bao vây, những vất vả mất mát của cả dân làng trong lúc di cư 1954. Sau mọi sự việc, Ông đều kết luận có sự an bài của Thiên Chúa, Ông đặt trọn niềm tin và phó thác mọi sự vào đấng tối cao, đã giúp Ông hoàn thành nhiệm vụ gia trưởng trong những tình thế hiểm nghèo. Ông có lòng sùng kính Đức Mẹ Maria cách riêng, luôn mang Ảnh Aó Đức Bà, thường hát hoặc kéo violon những bài hát về Đức Mẹ; có lẽ Đức Mẹ đã dủ lòng thương nên đã đón Ông về vào đúng ngày thứ bẩy đầu tháng Mân Côi (ngày 2 tháng 5 năm 2009).

Cha ơi, cuộc đời lao động vất vả của cha, không quản nắng mưa nhọc nhằn, ngày đêm ấp ủ thương yêu, cho chúng con được khôn lớn như hôm nay, chúng con sẽ chẳng bao giờ báo đáp được nữa! Chúng con nguyện suốt đời ghi nhớ ơn Cha. Con viết những dòng này cho vơi bớt nỗi đau thương trong lòng con, vì con chẳng còn tìm đâu được hình bóng Cha nữa!

Ngày lễ Hiền Phụ 2009
Các con Thuấn Thưởng Thuần Thu Thùy Thông

 
XÓM CHUÔNG MỘT THỜI - Nguyễn thanh Sơn

Bạn,

Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa, có khu phố Long Sơn thị trấn Long Điền chỉ là một xóm nhỏ nhưng lại có hơn chục gia đình làm nghề đúc chuông. Không giàu, nhưng nghề đúc chuông đồng cũng là nguồn mưu sinh tạm đủ cho người làm nghề, và đã có một thời vang bóng. Ngày nay, khi đến Long Điền, tìm về xóm chuông, vẫn còn đấy những mái nhà xưa nhưng không còn nhộn nhịp như trước nữa, thay vào đó là một khung cảnh vắng vẻ, đìu hiu. Báo Bà Rịa-Vũng Tàu ghi nhận toàn cảnh về xóm chuông này như sau.

Cách thị trấn Long Điền khoảng 1km, hơn 11 giờ trưa những người thợ đúc ở xóm chuông vẫn còn vật lộn với khói than và đất sét. Khuôn mặt đẫm mồ hôi của ông Trần Văn Hồng, chủ một cơ sở sản xuất chuông khu phố Long Sơn, không thể giấu nỗi vẻ mệt nhọc.

Hơn bốn mươi năm ông Hồng luôn canh cánh một nỗi lòng là làm sao để làng nghề đúc chuông mãi được lưu truyền.Không một dòng gia phả ghi chép lại và những người thợ đúc chuông cũng không ai biết xóm chuông có từ bao giờ và ông tổ của làng nghề truyền thống này là ai, chỉ biết rằng nghề đúc chuông đã từng có một "quá khứ vàng son". Ông Hồng bùi ngùi nhớ lại khoảng thời gian 1961-1965 là những năm nghề đúc chuông đồng được "lên ngôi". Một người thợ chính cũng có thể làm đủ nuôi sống cả gia đình. Lò đúc của những "người muôn năm cũ" như Hai Đảnh, Hai Thái, Ba Tam... luôn ngân vang những âm thanh trong trẻo, nhộn nhịp những bước chân người đến "thỉnh" (mua) chuông. Đặc biệt dịp tháng 7-8 âm lịch hay những tháng giáp Tết Nguyên đán, người đến "thỉnh" chuông rất đông..

Lớp cha ông ngày ấy giờ đã hóa "người thiên cổ" nhưng con cháu của họ vẫn "nối nghiệp. Ông Bùi Văn Bán, chủ một lò đúc chuông cho biết thêm: "Để có một sản phẩm hoàn chỉnh, người thợ đúc phải trải qua nhiều khâu, nhiều công đoạn như théc chuông, song sườn, vẽ hoa văn, tiết họa... Một cái chuông có bề ngoài đẹp, tiếng chuông hay trước tiên là nguyên liệu phải tốt, phải chế đúng quy cách. Nhưng trước hết người thợ đúc cần phải có một cặp mắt tinh tường và đôi tay khéo léo và quan trọng nhất, họ phải là những "nghệ sĩ bậc thầy" về âm thanh...".

Bạn,
Cũng theo báo quốc nội, những kinh nghiệm đúc chuông đồng như thế của cha ông vẫn được những người ở thế hệ sau đón nhận. Nhưng xóm chuông ngày nay dường như đã thiếu vắng hẳn cái không khí nhộn nhịp của người đến thỉnh chuông như những năm trước.Ông Hồng tâm sự: "Ba đời theo nghề đúc chuông rồi, sinh nghề thì tử nghiệp, bỏ đi tiếc lắm. Tôi có 8 người con, muốn truyền lại kinh nghiệm cho chúng nhưng cuộc sống càng ngày càng khó khăn, chỉ dựa vào đúc chuông thì không thể sống được nên chúng nó chỉ phụ thôi chứ không đứa nào chịu nối nghiệp...". Cùng thời với ông Hồng, ông Bùi Văn Bán cũng chung một nỗi niềm như vậy. Họ cảm thấy tiếc nuối làng nghề truyền thống đang dần dần bị mai một đi mà không biết làm gì để cứu vãn "bỏ thì thương, vương thì tội"...
Nguyễn thanh Sơn

 
CHIẾC LÁ VỘI RƠI GIỮA NẮNG HÈ - Nguyễn Nghĩa
Bấm CURSOR trong khung và dùng PAGE-UP / PAGE DOWN để chuyển trang...